Sunday, January 24, 2016

Thủ tướng Dũng 'được đề cử nhiều nhất'


Đại hội 12ImagecopyrightAFP
Image captionThủ tướng VN ông Nguyễn Tấn Dũng nhận được đề cử bổ sung nhiều nhất tại Đại hội 12, theo truyền thông Việt Nam.
Đương kim Thủ tướng Việt Nam được 'đề cử nhiều nhất' tại Đại hội 12 trong số hàng chục trường hợp được giới thiệu nằm ngoài 'danh sách đã chốt' của Hội nghị Trung ương 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo truyền thông trong nước.
Hôm 24/01/2016, tờ Vietnamnet.vn đưa tin kèm dẫn lời của ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương của ĐCSVN, cho biết:
"Trong số các nhân sự được giới thiệu, đề cử thêm, có khá nhiều người trong nhóm uỷ viên Bộ Chính trị quá tuổi đã xin rút trước đó.
"Đó là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bí thư Thành uỷ TP.HCM Lê Thanh Hải, Bí thư Thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị.
"Được biết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người được giới thiệu nhiều nhất.
"Danh sách được giới thiệu đề cử còn có thêm Thường trực Ban Bí thư TƯ Đảng Lê Hồng Anh, Trưởng ban Tổ chức TƯ Tô Huy Rứa…"
Tờ báo này cũng cho biết thêm chi tiết về bốn trường hợp ủy viên trung ương Đảng khóa 11 đã quá tuổi nhưng được Trung ương và Đại hội đề nghị tiếp tục ở lại khóa 12.
Gọi đây là những trường hợp 'đặc biệt', tờ VietnamNet dẫn lời của ông Vũ Ngọc Hoàng cho biết thêm:
"Về 4 trường hợp ủy viên TƯ đặc biệt (quá tuổi) được Ban Chấp hành TƯ khoá 11 giới thiệu tái cử gồm Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Đỗ Bá Tỵ, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh và Thứ trưởng Bộ Công an Bùi Văn Nam... tại Hội nghị TƯ diễn ra trước Đại hội, TƯ đã bàn các trường hợp nhân sự này, thấy có một số lý do, sức khoẻ vẫn đảm bảo, rồi yêu cầu công việc đó đang lúng túng về nhân sự thay thế nên đã quyết định giới thiệu cho 4 trường hợp uỷ viên này tái cử."

Giới thiệu ngoài danh sách

Đại hội 12Image copyrightReuters
Image caption62 người được giới thiệu bổ sung ngoài danh sách Trung ương ĐCSVN đề nghị, theo báo Việt Nam.
Cũng hôm Chủ nhật, tờ Pháp luật TPHCM đưa tin về Đại hội 12 cho hay đã có 62 người được 'giới thiệu thêm' ngoài danh dách Trung ương đề nghị. Cùng dẫn lời ông Vũ Ngọc Hoàng, tờ này khẳng định:
"Nhiều Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI thuộc diện quá tuổi như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn SinhHùng, Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, Trưởng ban Tổ chức trung ương Tô Huy Rứa… đều đã được đại biểu ở nhiều đoàn đại biểu dự Đại hội XII tiếp tục giới thiệu tái cử vào Trung ương khóa XII.
"Ngoài ra, nhiều đảng viên không phải là Ủy viên Trung ương khóa XI cũng được đại biểu các đoàn giới thiệu thêm, bổ sung vào danh sách mà Trung ương khóa XI gửi tới Đại hội trước đó."
Theo tờ báo này, công việc giới thiệu bổ sung nhân sự và tiến hành bầu chính thức vẫn tiếp tục còn chờ quyết định thêm của Đại hội.
"Như đã thông tin, thực hiện Quy chế bầu cử 244 của Trung ương khóa XI và Quy chế bầu cử của Đại hội XII, tất cả ủy viên trung ương khóa XI, nếu không được Trung ương giới thiệu tái cử, thì tới Đại hội này, dù được đại biểu các đoàn giới thiệu tiếp, thì cũng phải từ chối," tờ Pháp luật TPHCM cho biết thêm.
"Tuy nhiên, việc họ có được rút khỏi đề cử hay không sẽ phải qua một quy trình để Đại hội biểu quyết hoặc bỏ phiếu kín để quyết định. Nếu đa số yêu cầu họ ứng cử tiếp, thì những người này sẽ được đưa vào danh sách bổ sung.
"Danh sách bổ sung này sẽ được chọn từ trên xuống dưới, theo tỷ lệ ủng hộ, đảm bảo tổng số ứng viên do Trung ương khóa XI giới thiệu và số giới thiệu bổ sung tại Đại hội không dư quá 30% con số được bầu, tức 200 ủy viên trung ương cả chính thức và dự khuyết của Trung ương khóa XII.
"Sau đó, cuộc bỏ phiếu chính thức để bầu ra Trung ương khóa XII mới được tiến hành."
FB Osin Huy ĐứcImage copyrightFB Truong Huy San
Image captionNhiều bloggers hay Facebookers hàng đầu của Việt Nam tiếp thục bình luận, theo dõi chặt chẽ và chia sẻ trên mạng xã hội về kỳ Đại hội 12.

'Giọt nước tràn ly'

Đã và đang có các nhận định, bình luận khác nhau của dư luận và các giới quan sát về bầu chọn nhân sự cao cấp của kỳ Đại hội.
Trên FB của mình hôm 24/01, blogger Osin Huy Đức - Trương Huy San, trong một bình luận, nêu quan điểm:
"Cho dù kết quả thế nào thì Đảng CSVN đã không còn như trước nữa (ít nhất về mặt thông tin, mọi diễn tiến đều được các bên cập nhật)."
Trước đó, vài giờ đồng hồ, cũng blogger này nêu bình luận:
"Khi 75% ủy viên TW quay lưng với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, dồn phiếu cho TBT Nguyễn Phú Trọng (trong BCT cũng chỉ duy nhất 1 phiếu giới thiệu ông Dũng vào chức vụ TBT), có nghĩa là "giọt nước đã tràn ly". Đảng đang cầm quyền chứ không phải chỉ một người hay một gia đình chia chác và cầm quyền.
"Tôi nghĩ, nếu ông Dũng ra đi, chính quan chức các tỉnh miền Tây, miền Đông, sẽ là những người mừng nhất. Từ nay, lượng các ông hoàng, bà chúa mà họ phải phục dịch giảm đi rất nhiều.
"Đại hội vẫn còn 3 ngày then chốt. TS. Nguyen Duc Thanh, trên FB của mình, đưa ra một dự đoán rất táo bạo về kết quả phiếu bầu đối với TBT Nguyễn Phú Trọng. Chúng ta cũng nên dự đoán số phận chính trị của cậu ấm Nguyễn Thanh Nghị. Liệu đại hội đại biểu toàn quốc có được sự "sáng suốt" như đại hội đại biểu Sài Gòn."
Còn trong bài trả lời phỏng vấn BBC hôm Chủ nhật, TS. Vũ Cao Phan, nhà nghiên cứu chính trị Việt Nam từ Đại học Bình Dương, nêu bình luận và dự đoán về nhân sự ở kỳ Đại hội. Ông nói:
"Sự chuẩn bị cho Hội nghị TW 14 cũng như cho Đại hội 12 của Đảng là khá kỹ, hơn hẳn các Hội Nghị TW 6, 7 và 10 trước đây. Các “biện pháp tổ chức” cũng đã được thực thi khá nặng và triệt để để bảo đảm sự thành công của Đại hội như nó được trông đợi. Có thể nhìn thấy kết quả.
PGS. TS. Phạm Quý Thọ
Image captionPGS. TS. Phạm Quý Thọ đặt dấu hỏi liệu chủ nghĩa bảo thủ trong Đảng đang và sẽ cản trở quá trình đổi mới, cải tổ của Việt Nam.
Sự ổn định cũng là cần thiết cho thời kỳ phát triển rất quan trọng của Việt Nam sắp tới.Nhưng theo tôi nếu ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được bầu lại làm Tổng Bí thư, ông cũng chỉ nên tái tại vị tối đa nửa nhiệm kỳ. Những người được thấy sẽ kế tục ông cũng đã là các cụ cứng cựa cả, đâu còn cần chăm sóc, chỉ bảo nữa."

Bảo thủ cản đổi mới?

Trong khi đó, từ Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư của Việt Nam, PGS. TS. Phạm Quý Thọ trong bài viết trên BBC hôm 24/1, bình luận về khía cạnh mà ông cho là cần lưu ý về chủ nghĩa bảo thủ trong đảng và ảnh hưởng của nó tới quá trình cải tổ, đổi mới ở Việt Nam hiện nay và tương lai.
Nhà nghiên cứu viết: "Trong ngày đầu, các diễn văn, báo cáo chính trị, kinh tế - xã hội quan trọng của lãnh đạo cao nhất của đảng và nhà nước được trình bày.
"Sau đó có các tham luận của các đại biểu, trong đó có một số bài được coi là ‘dốc ruột’, mà một số báo trong nước đã đăng tít như ‘Bài phát biểu tâm huyết, thẳng thắn của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh’ trên Vietnamnet, ngày 23-01-2016), hay bài 'Ông Đặng Ngọc Tùng: 'Nhân dân cần lãnh đạo khí phách'' trên Vnexpress.net cùng ngày..., đã đang gây được sự chú ý trong công luận.
"Tuy nhiên quan sát từ các văn kiện có điều không thay đổi, mang xu hướng bảo thủ (hiện giờ và sẽ là ít nhất trong nhiệm kỳ đại hội 12) là ‘kiên định chủ nghĩa Mác-Lê Nin, là kinh tế thị trường ‘định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)’.
"Phải chăng mục tiêu của Chủ nghĩa Xã hội, về mặt lý thuyết, được cho là ‘tốt đẹp’ hơn Chủ nghĩa Tư bản cho nên phải hướng tới?
"Chưa có nghiên cứu chỉ ra một cách thuyết phục tính đúng đắn của quan điểm này trong thực tế, song điều hiển nhiên về mặt lý luận là chủ nghĩa Mác – Lê Nin đối nghịch với kinh tế thị trường hiện đại. Mặc dù có nhiều phản biện, quan điểm này hiện vẫn là kim chỉ nam trong đường lối của đảng CSVN," PGS. TS. Phạm Quý Thọ nêu quan điểm với BBC."

Sẽ thắng áp đảo?

Bình luận TS về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa được đề cử bổ sung 'với tỷ lệ cao' vào danh sách Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa 12 tại kỳ Đại hội, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói với BBC hôm 24/1:
"Nếu mà ông Nguyễn Tấn Dũng tận dụng được cơ hội mong manh này để trụ lại..., thì ông sẽ có một quyền lực rất lớn.
"Và điều đó chứng tỏ rằng tất cả những tính toán để loại ông ấy ra là thất bại và trong mọi trường hợp, nó sẽ là một sự cố đánh dấu một sự thay đổi chưa từng có trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam.
"Có thể nó đánh dấu một giai đoạn mới và nó thể hiện một sự chia rẽ, trước kia nó cũng có, nhưng mà đến bây giờ, nó lộ ra thanh thiên bạch nhật.
"Và như thế thì thực sự nó sẽ dẫn đến những bước phát triển mới của tình hình chính trị Việt Nam.
"Tôi nghĩ rằng bất luận là ông Dũng hay là ông Trọng thắng trong cuộc này, thì Đảng Cộng sản Việt Nam sau Đại hội này cũng sẽ không còn là cái đảng cộng sản trước Đại hội," nhà quan sát và vận động cho xã hội dân sự và dân chủ hóa của Việt Nam nói với BBC.
Được biết, theo lịch trình làm việc của Đại hội 12, ngày bế mạc Đại hội hôm 28/01 sẽ chính thức ra mắt tân Tổng Bí thư khóa 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trước đó, toàn bộ kết quả bầu các ủy viên mới của Ban chấp hành Trung ương của đảng này sẽ được công bố, cùng với chi tiết về thành phần nhân sự trong các cơ cấu quyền lực tối cao của Đảng như Bộ Chính trị và Ban bí thư v.v...

Saturday, January 23, 2016


NGÀY TẾT TRONG TÂM THỨC VIỆT


Description: C:\Users\anhpham\Desktop\chúC MỪNG NĂM MỚI\2.png

    PHẠM TRẦN ANH
                                                                

    Từ lâu, do chịu ảnh hưởng nặng nề của sự nô dịch văn hoá của gần 1 ngàn năm nô  lệ nên một số người trong chúng ta vẫn nghĩ rằng Rồng là của Tàu và Tết Nguyên Đán cũng là tết của Tàu, chúng ta ăn tết theo Tàu. Ngày nay, sự thật khách quan của lịch sử đã  được phục hồi sau hàng ngàn năm bị che phủ bởi lớp bụi của thời gian và nhất là do âm mưu xảo quyệt của đế quốc “Đại Hán” xưa và  đế  quốc mới Trung Cộng ngày nay.

     Ngay từ khi thành lập triều Thương của Trung Quốc, với tư tưởng chủ đạo “Độc tôn Đại Hán”, tự cho mình là trung tâm của thiên hạ nên ngay từ triều Thương, sau khi đánh đuổi nhà Hạ của tộc Việt đã chọn tên nước là Trung Quốc. Trung Quốc là trung tâm của thiên hạ, triều đình Trung Quốc là “Thiên triều” trong khi các nước khác là chư hầu, vua Trung Quốc là Thiên tử. Sau khi đã xâm chiếm nhà Hạ và các nước Bách Việt, hết Thương rồi đến Chu đã xâm thực văn hóa, tiếp thu tinh hoa của nền văn minh Việt rồi cải biến thành văn hóa Hán, tự cho mình là văn minh “Hoa Hạ” còn tất cả các nước là man di mọi rợ.

     Các sử gia Hán tộc với quan niệm: “Đại nhất thống” tự cho là trung tâm thế giới, cái rốn của nhân loại, là tộc người ưu việt. Chủ trương trước sau như một của Đại Hán bành trướng là “Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương” nghĩa là: lấy ân huệ Trung Quốc để yên định bốn phương. Đó là chủ trương bành trướng Đại Hán “Dĩ Hạ biến Di” nghĩa là lấy cái cao thượng, tao nhã của Đại Hán để cải hoá man di mọi rợ. Chính vì vậy trong mọi thời kỳ lịch sử, Hán tộc luôn luôn chủ trương tiêu diệt văn tự các dân tộc khác, âm mưu nô dịch văn hoá rồi đồng hoá các dân tộc. Lợi dụng Hán tự là văn tự duy nhất các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay đã xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi cho phù hợp với sử quan Đại Hán, đánh đổ lòng tự hào dân tộc của các tộc người khác để dễ bề thống trị và đồng hoá. Đó là chủ trương nhất quán, là bản chất bành trướng thâm độc của họ suốt từ xưa tới nay.

     Chính vì thế, lịch sử Trung Quốc là lịch sử của những cuộc chiến tranh xâm lược bành trướng, thôn tính và đồng hóa các dân tộc khác. Hán tộc thời Thương Chu vẫn ngạo mạn, tự cho họ là trung tâm là Hoa Hạ (Trung Hoa) cao sang còn tất cả đều là man di mọi rợ cả, nên Hán ngữ thường gọi tên  của những dân tộc xung quanh họ kèm theo bộ khuyển (chó), bộ trĩ (côn trùng), bộ mã (ngựa). Trong khi những người họ gọi là man di mọi rợ đã thành lập gần 40 quốc gia phồn thịnh và hùng mạnh ở đó vào thời Xuân Thu.

     Truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc với Bố Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ cũng như sách sử, di chỉ khảo cổ nhà Hạ đã minh chứng Rồng là vật tổ biểu trưng của Việt tộc, một tộc người sống bằng nông nghiệp nên mới chọn Rồng là vật Tổ phun nước xuống để cày cấy lúa, mưa thuận gió hòa. Chính sách sử cổ Trung Hoa và Trung Quốc Văn hóa Sử đều chép rằng: “Những thị tộc người Việt cổ tôn thờ vật tổ rồng, vẽ hoa văn trên mình cắt tóc ngắn, trên cơ sở vẽ hoa văn vật tổ rồng”. Các nhà khảo cổ khai quật được những di chỉ văn hóa Long Sơn (Sơn Tây) mà theo các nhà nghiên cứu thì văn hóa Long Sơn – Sơn Tây có hình tượng rồng cũng trùng hợp với truyền thuyết liên quan tới vật tổ rồng thời nhà Hạ của Việt tộc.

     Đến thời Thương, triều đại đầu tiên của lịch sử TQ chọn vật tổ là con hổ đến thời Hán lấy Rồng Việt làm vật Tổ. Lưu Bang xuất thân là một viên Đình Trưởng ở miền sông Hoài, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Việt nên sau khi đánh thắng Hạng Võ (Sở Việt) lên ngôi Hoàng Đế triều Hán. Khi lên ngôi, Hán Cao Tổ cũng tế Li Vưu là thần chiến tranh, Hoàng đế của người Hmong-Mien (Mèo Dao) là 1 chi tộc Việt và chọn Rồng làm vật tổ của tộc Hán. Thời Hán Vũ Đế diệt “Bách gia Chư Tử-Tôn sùng Khổng giáo” trọng dụng Đổng Trọng Thư như một Khổng Tử triều Hán lập thuyết Thiên mệnh để chính danh cho các vua Hán làm vua là do mệnh Trời, là con Trời (Thiên tử) nước Hán là “thiên quốc” bốn phương đều là “Man, Di, Mọi Rợ), với Tam cương “Quân, Sư, Phụ”, nước nhỏ phải “thờ” Thiên tử, Thiên triều, lấy Rồng là biểu tượng tối cao, thân xác vua là long thể, mình rồng, giường vua nằm là long sàng, áo vua mặc là long bào, mặt vua là long nhan, thuyền vua đi là thuyền rồng …

     Ngoài việc lấy Rồng Việt làm vật tổ, Hán tộc còn xem cái tết Nguyên Đán là của Hán tộc. Từ thời cổ đại cho tới Nhà Hạ vẫn lấy ngày mồng một tháng giêng là ngày Tết của người Việt cổ. Nhà Hạ ăn tết nhằm cung dần, dựa theo nông lịch tức tiết đầu xuân lúc khởi đầu có sấm.

     Khi tộc Thương (Hán tộc) đánh đuổi Nhà Hạ (Việt tộc) khỏi Hoa Bắc thì Hán tộc chọn ngày 1 tháng 12 âm lịch là Tết Nguyên Đán, đến triều Chu chọn ngày 1 tháng 11 âm lịch, triều Tần chọn ngày 1 tháng 10 âm lịch cho cả Trung Quốc. Mãi đến thời Hán Vũ Đế chịu ảnh hưởng của văn hoá Bách Việt phương Nam nên chọn lại ngày 1 tháng giêng là Tết Nguyên Đán.

     Ngày nay, Trung Quốc lại chọn ngày 1 tháng 1 Dương lịch tức Tết Dương lịch của Tây phương làm ngày Tết nhưng dân gian Hoa Nam và Hoa Đông là người gốc Việt cổ vẫn “Ăn Tết” vào ngày mồng 1 tháng giêng. Truyền thống ăn Tết Nguyên Đán ảnh hưởng lên toàn thể dân Trung Quốc gốc Hán nên thế giới hiểu lầm cho rằng ngày Tết Nguyên Đán là của người Trung Quốc. Ngày nay, sự thật lịch sử đã được phục hồi và chúng ta, những người Việt Nam tự hào hãnh diện về nền văn minh Việt cổ. Trong khi Nhật Bản, Trung Quốc đã chọn ngày Tết Dương Lịch, nhưng dân tộc Việt Nam trước sau như một vẫn bảo lưu truyền thống “Nông lịch” của người Việt cổ lấy ngày mồng một tháng giêng Âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Ta để phân biệt với Tết Dương lịch 1 tháng 1 Dương lịch là Tết Tây.

      Trong lễ hội dân gian, người Việt cổ xem trọng nhất là Tết. Tết là phong tục truyền thống của người Việt từ xa xưa cho đến ngày nay. Dân gian vẫn thường phân biệt là Tết ta và Tết Tây chứ không ai nói là tết Tàu vì chỉ dân tộc Việt Nam mới có chữ “TẾT” mà thôi, Hán ngữ không có chữ tết nên Tết là của Việt Nam chứ không phải của Tàu.

     Thật vậy, trong Kinh Lễ viết Tế-Sạ # Tết mà Khổng Tử, người thầy muôn đời của người Trung Quốc đã giải thích với học trò:"Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là "Tế-Sạ". Điều này chứng tỏ rằng người Trung Quốc không có tết và Kinh Lễ là của người Việt cổ nên tên gọi tết cổ của người Thái là chi Âu Việt trong Bách Việt cũng gọi Tết là Thê-Sa.

     Tết là ngày lễ mừng đầu năm mới của rất nhiều dân tộc và sắc dân ở khắp miền Đông Nam Á. Ngày nay, các công trình nghiên cứu đã xác định cư dân Đông Nam Á cùng chung chỉ số sọ, cùng một mã di truyền DNA, nên là những chi tộc Việt trong Bách Việt. Chính vì vậy, tất cả đều ăn tết, chữ tết cùng một nguồn gốc với chữ Tết của Việt tộc. Đồng bào Nùng cũng đọc là tết (nèn tết=năm tết), đồng bào Mường cũng ăn “Thêt”= ăn tết như đồng bào Việt, đồng bào Thái thì có lễ mừng năm mới gọi là Thêts. Thêts khal là mùa tết, những ngày tết, khal text là ngày tết. Đồng bào Chàm cũng có tết mà họ gọi là “Tít” vào lễ tháng năm của lịch Chàm cổ, “băng tít” là ăn tết, kTêh là lễ hội lớn nhất trong năm của người Chàm. Người Mon cũng ăn tết mà họ gọi là Ktêk. Người Khmer cũng có lễ hội “Chêtr” là Tết mừng tháng 5 theo cổ lịch Khmer là tháng gió mùa bắt đầu thổi ngược lại, tháng của mùa gió nồm ở Đông Nam Á tùy theo nơi, từ cuối tháng tư đến cuối tháng năm. Ấn Độ cũng có chữ “Chetr” để chỉ tên tháng tư và tháng năm là 2 tháng giao mùa từ mùa nắng sang mùa mưa trong lịch Ấn Độ cổ. Đặc biệt ở Népal cũng ăn tết trong “Lễ đầu năm” cổ truyền của người Népal và người Munda cũng có lễ ăn mừng mùa mưa đến gọi là “Teej”* như các quốc gia nông nghiệp trong Bách Việt.

     Đặc biệt, truyền thuyết dưới dạng truyện cổ tích Việt Nam về lễ Tết lưu truyền trong dân gian từ bao đời nay gắn liền với ý niệm cha Trời, mẹ Đất. Ý niệm về Đất Trời được thể hiện qua hình tượng Bánh Chưng bánh dày ngay từ thời vua Hùng thứ tám (Sách sử xưa viết là vua Hùng thứ sáu vì không kể Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, chỉ tính từ vua Hùng thứ nhất. Thực ra phải nói là vua Hùng thứ tám mới đúng theo quốc phổ ghi trong Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư và phù hợp với niên đại lịch sử.

    Truyện kể rằng, vua Hùng thứ tám sau khì nhờ Phù Đổng Thiên Vương “Cậu bé nhà Trời” phá tan giặc Ân đã chọn người con thứ 9 là Lang Liêu để truyền ngôi. Tương truyền trong khi 21 người anh em đi tìm sơn hào hải vị để đến tết dâng lên vua cha cúng tiên vương cho tròn đạo hiếu thì Lang Liêu do mẹ mất sớm, gia đình nghèo nên chỉ biết dâng lên vua cha cặp bánh chưng hình vuông và bánh dầy hình tròn. Lang Liêu là người con hiếu thảo, biết thương người đang buồn rầu lo nghĩ rồi tủi thân vì mẹ mất sớm nên không ai phụ giúp nên “Thần nhân” hiện ra mách bảo Lang Liêu rằng: “Trong trời đất, không vật gì quý hơn gạo vì gạo là để nuôi dân, người ta ăn mãi không bao giờ chán. Nếu con lấy gạo nếp nấu sôi lên rồi đem quệt cho thật nhuyễn, nặn thành hình tròn để tượng trưng cho trời gọi là bánh dầy. Lấy gạo nếp trắng tinh đem vo sạch, cho nhân thịt và đậu xanh vào giữa rồi lấy lá dong xanh gói rồi đem nấu chín gọi là bánh chưng”.

     Vua Hùng thấy Lang Liêu là người biết tri ân Trời Đất, ông bà Tiên tổ, lại biết thương yêu đồng bào nên chọn chàng lên ngôi kế vị vua cha. Từ đó, dân gian Việt có tập tục là đến ngày lễ tết thì làm bánh dầy cúng trời đất, gói bánh chưng để cúng ông bà tiên tổ. Ý niệm vuông tròn biểu trưng cho trời đất và sự hoàn thiện, tuyệt mỹ nên dân gian thường chúc nhau “Mẹ tròn con vuông” mỗi khi sinh đẻ.  Tinh hoa của minh triết Việt chỉ ra rằng cuộc sống phải hội đủ 2 yếu tố Âm dương mới đầy đủ viên mãn. Đó chính là “Đạo” vì phải có cả âm dương mới là đạo. Đạo Trời, đạo Đất và cũng chính là đạo người (nhất âm nhất dương chi vị đạo).

     Trong văn học thường viết Tết gắn liền với chữ Nguyên Đán là Tết Nguyên Đán. Truyền thuyết xa xưa kể lại rằng Đế Chuyên Húc, ông vua Việt cổ thời cổ đại gọi tháng giêng là NGUYÊN, gọi mồng một là ĐÁN rồi ghép lại là Nguyên Đán tức mồng một tháng giêng. Tầm nguyên ngữ nghĩa của hai chữ Nguyên Đán sẽ cho ta thấy rõ hơn ý nghĩa và tầm quan trọng của Tết Nguyên Đán. Nguyên là mới bắt đầu, Đán là một chữ tượng hình, ở bên trên là chữ nhật chỉ mặt trời, bên dưới là chữ nhất thay cho mặt bằng phẳng khiến chúng ta liên tưởng mặt trời từ từ lên cao, tượng trưng cho một ngày mới bắt đầu.  Nguyên Đán là ngày đầu năm đầu tháng giêng Âm lịch. Do đó, Tết Nguyên Đán là ngày đầu tiên của tiết đầu của một năm mới.

    Đối với người Việt, cái Tết có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống. Thật vậy, ngoài cái giờ phút thiêng liêng chuyển đổi của đất trời qua “Giao thừa” sang năm mới, mọi người trong gia đình mỗi người đều mang một tâm trạng riêng, nhớ tới những người thân đã khuất còn hiển hiện quanh đây, trong không khí ấm cúng của gia đình đêm ba mươi tết. Trên bàn thờ với đĩa ngũ quả khói hương nghi ngút, đan quyện linh hồn những người đã khuất với kẻ còn sống đang tưởng nhớ tới họ. Tết nhất cũng là dịp gia đình đoàn tụ xum vầy, cháu con dù đi làm ăn xa đến đâu nếu có phương tiện vẫn trở về mái ấm gia đình, để hàn huyên tâm sự chia xẻ những khó khăn trong cuộc sống.

    Hàng năm cứ vào những ngày cuối tháng chạp (tháng 12 ÂL), ai cũng nao nao trong lòng về ngày Tết sắp đến. Qua ngày hai mươi là Tết đến nơi rồi, không biết năm nay những người thân xa quê hương ai sẽ về đón Tết, ăn Tết với gia đình? Để chuẩn bị vui đón cái tết đúng ý nghĩa của nó, gia đình nào cũng phải trang hoàng nhà cửa, sửa soạn bàn thờ Gia Tiên với đĩa “Ngũ quả” gồm 5 loại trái cây là trái sung, trái mãng cầu, trái dừa, đu đủ, xoài nói lên ước vọng tâm tư dân dã miền Nam.  Cầu (mãng cầu) trời khấn phật cho vừa (dừa) đủ (đu đủ) xài (Xoài). Người Việt miền Bắc thì trong đĩa ngũ quả phải có một chùm quả Sung ước mong sự sung túc cho gia đình.

“ Mỗi năm hoa Đào nở,
lại thấy ông Đồ già ..
Nghiên mực tàu giấy đỏ,
bên phố đông người qua…

    Ngày xưa dân gian thường nhờ ông Đồ viết đôi câu đối để chúc tụng, cầu mong tài lộc hạnh phúc theo ý của mỗi người: “Hoa tay thảo những nét, Như Phượng múa Rồng bay”. Năm nay “Đào lại nở” nhưng ít thấy ông Đồ xưa nên chúng ta phải nhờ mấy “ông Thư pháp trẻ” viết vài chữ, vài câu gọi là mừng xuân. Giới trẻ thì trước tết đã rủ nhau đến hiệu sách chọn mua thiệp Xuân để gửi chúc tết đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp với những lời chúc mừng nhân dịp Xuân về.

    Ngày 23 tháng chạp là ngày ông Táo lên trời. Đêm giao thừa 30 tháng chạp, ông Táo lại trở về trần gian với gia đình vào thời điểm “năm cùng tháng tận” mang lại hy vọng cho gia chủ sang năm làm ăn may mắn phát tài phát lộc. Vào dịp cuối năm, gia đình nào cũng lo sơn quét nhà của đón Tết nhưng cũng không quên ra thăm viếng sửa sang sơn quét những ngôi mộ của người thân, đó chính là lúc tâm hồn người ta chùng xuống chạnh nhớ ông bà cha mẹ, nhớ những ngày tháng đã qua trong cuộc đời trong tâm thức mỗi con người. Lễ Tết còn thể hiện tình bà con nghĩa làng nước, gia đình này bàn với gia đình kia mổ chung một con heo, nấu chung nồi bánh chưng, bánh tét để được ngồi bên nhau canh nồi bánh kể chuyện râm ran cả một quá khứ tuổi thơ hiện về ngập tràn tâm tưởng.

    Trước Tết nhà nào cũng lo đi sắm Tết, mua cho con trẻ bộ áo mới để mặc tết. Đúng giờ Giao thừa, gia đình đứng trước bàn thờ gia tiên để khấn vái ông bà Tiên Tổ phù hộ cho mọi người. Trong không khí trang trọng đặc biệt của ngày Tết, trên bàn thờ khói hương nghi ngút, con cháu lần lượt chúc tuổi các bậc trưởng thượng ông bà cha mẹ được sống lâu trăm tuổi, rồi ông bà cha mẹ lại mừng tuổi cho con cháu mau khôn lớn, học hành thành đạt … Sau đó, gia đình anh chị em rủ nhau đến chùa lễ Phật hoặc đến nhà thờ nhưng không quên tập tục dân gian xưa là bẻ một cành cây có lá non gọi là “Hái lộc” mới đem về nhà cho sang năm gia đình được nhiều may mắn, tài lộc.

    Ý nghĩa cao đẹp nhất của ngày Tết truyền thống Việt là “Tạ Ơn”, đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam. Thật vậy, Giờ phút “Giao Thừa” chuyển đổi từ năm cũ sang năm mới, dân gian Việt Nam nhà nào cũng bày một mâm hoa quả trước sân nhà để cúng Trời Đất, cảm tạ Trời Đất đã ban sự sống cho con người, cảm tạ ông bà Tiên Tổ đã sinh thành ra mình để có được ngày hôm nay. Truyền thống dân gian Việt là “Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy” đã nói lên đạo hiếu của bổn phận làm con và truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của người Việt. Ngày mồng một tết, sau khi chúc tuổi thọ cha mẹ biểu trưng lòng biết ơn cha mẹ đã sinh thành nuôi dưỡng dạy dỗ nên người, dân gian còn phải đến chúc tết các bậc trưởng thượng trong dòng họ rồi chúc tết bà con cô bác, hàng xóm láng giềng.

    Trong ba ngày tết, đi đến đâu, vào nhà nào cũng được tiếp đón linh đình nồng hậu hơn mọi ngày với nay đủ món ngon vật lạ ngày tết. Ngày mồng 3 tết đặc biệt dành riêng để đến nhà thày cô chúc tết với món quà biểu tỏ lòng biết ơn công lao người đã dạy dỗ việc học hành trên ghế nhà trường. Tất cả đã nói lên truyền thống cao đẹp tràn đầy tính nhân bản, thấm đậm nét nhân văn của đạo làm người của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến.

    Ngoài ý nghĩa tâm linh của ngày tết, dân gian Việt thiên về cuộc sống tình cảm nên xem ngày tết như là một dịp để quên đi những vất vả gian truân của cuộc sống, quên đi những buồn phiền hiềm khích năm cũ đẻ vui vẻ đón tết, ăn tết. Không một ai trong chúng ta lại không nhớ đến nỗi vui mừng khi nhận những bao tiền “Mừng Tuổi” “lì xì” màu đỏ rực thời còn nhỏ dại của người thân mừng tuổi cho những đồng tiền mới tinh.

     Người Việt Nam chúng ta không ai có thể quên được không khí tưng bừng nao nức của ngày tết với câu đối đỏ, những bức tranh tết đỏ rực, những câu đối chúc tụng, những tràng pháo đỏ treo trên cây nêu hoặc trên cao để đúng giờ giao thừa nổ liên hồi để xua đuổi tà ma nên đêm ba mươi dân gian còn gọi là “đêm trừ tịch”.

     Tiếng pháo nổ dòn giã vang rền, có nơi còn múa lân để chúc mừng gia chủ khiến lòng người ai ai cũng hoan mừng chờ đón giây phút thiêng liêng trọng đại đó để “Tống cựu nghinh tân”, đạp cái xấu xa xui xẻo năm cũ để đón mừng một năm mới tràn đầy hy vọng. Làm sao có thể quên được những đôi môi mọng đỏ của các cô gái khi cắn hạt dưa. Cái thú ngồi cắn hạt dưa đến rát cả lưỡi mà vẫn cắn không biết chán, những tiếng cười ròn rã, những câu truyện râm ran suốt cả đêm. Tết nhất với đủ mọi món ăn nào là thịt mỡ dưa hành, giò chả rồi bánh chưng, bánh tét tha hồ mà ăn đến ngán ngẫm ê hề.

    Nói đến Tết không ai không nhớ đến bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên vào những ngày cuối năm với cái tết dân gian thấm đậm truyền thống Việt: “Nêu cao, pháo đỏ bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành …” của không khí ngày tết ở làng quê: “Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột. Loẹt loè trên vách bức tranh gà ..! Bên cạnh những tấm lòng chân thật còn có những lời chúc “Đầu môi-chót lưỡi” của những phường giả dối nên thi sĩ Tú Xương đã mỉa mai cay đắng:

“ Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu …!!!”

    Mỗi lứa tuổi đón tết một cách khác, trẻ em thì vui mừng mong đợi ngày tết với những ước mơ đơn giản đời thường với bao tiền lì xì mừng tuổi, bộ quần áo mới và bánh thịt phủ phê năm ba ngày tết. Tuổi thanh xuân thì ngao du đây đó xa nhà, có người lo làm ăn sinh kế nên phải xa nhà tha hương nơi đất khách quê người, chợt một lúc nào đó cảm thấy hụt hẫng thiếu vắng một cái gì khiến tâm tư lắng đọng nhất là những chiều cuối năm nắng hanh vàng vọt bên thềm khiến lòng ta xao xuyến:

Chiều cuối năm gợi nhớ,
Trở về mái nhà xưa …
Ngập tràn bao kỷ niệm,
Thương biết mấy cho vừa ..!

Chiều cuối năm gợi nhớ,
Một thoáng buồn xa đưa …
Những người thân thương cũ,
Chờ ai đón Giao thừa ..?!
( Phạm Trần Anh)

Thi sĩ Thế Lữ cũng đã trải qua những ngày tết xa nhà nơi gác trọ mới cảm thấy một nỗi buồn thấm thía:

Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran ...
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang ..!

    Với tuổi già thì những ngày cuối năm biết bao nhiêu buồn vui cuộc sống đủ để trầm ngâm về thế thái nhân tình, về cõi nhân sinh riêng mình chứng nghiệm! Nhìn bàn thờ khói hương nghi ngút, nhớ những người thân đã qua đời, những bạn bè không còn nữa, chậm rãi vuốt chòm râu bạc nhấp một hớp rượu rồi khề khà ngâm vịnh:

“ Nén hương khói toả thờ Tiên Tổ,
Chén rượu ngâm nga chúc bạn bè ...!”

    Vào tuổi “Thất thập cổ lai hi”, với cái nhìn thấu suốt toàn diện cuộc đời sau bao năm thể nghiệm cuộc sống để cuối đời nhận chân được qui luật muôn đời của con tạo xoay vần, của sinh lão bệnh tử nên bình thản chấp nhận tuổi già xồng xộc đến, chờ đón cái chết một cách ung dung tự tại như bài kệ “Cáo tật Thị chúng” của thiền sư Mãn Giác:

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai ..
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai ..
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai ..!

Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa tươi ..
Việc đời qua trước mắt,
Trên đầu già đến rồi …
Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng mãi,
Đêm qua sân trước một cành mai ..!

PHẠM TRẦN ANH



* “Từ điển Đồng Nguyên Tiếng Việt-Đông Nam Á” của bác sĩ Nguyễn Hy Vọng.

Friday, January 22, 2016





  

ĐOẠN TRƯỜNG BẤT KHUẤT

TẢN MẠN TÂM TÌNH …
CỦA MỘT TÙ NHÂN KHỔ SAI CHUNG THÂN
VIẾT TỪ ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
  

KÍNH DÂNG QUỐC TỔ
HỒN THIÊNG SÔNG NÚI
DÒNG GIỐNG RỒNG TIÊN.
Anh linh Tiền nhân dựng nước.
Anh thư Hào kiệt đời đời giữ nước …
Các chiến sĩ đã hi sinh vì lý tưởng Tự do Dân chủ


TẬN CÙNG ĐỊA NGỤC II

NHÀ XUẤT BẢN VIỆT NAM NGÀY MAI
AMAZON ẤN HÀNH
IN LẦN THỨ NHẤT TẠI HOA KỲ 2015
BÌA & TRÌNH BÀY: UYÊN NGUYÊN
ISBN
@ TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
Liên lạc: phamtrananh2015@gmail.com 


TẢN MẠN TÂM TÌNH

     Nhân buổi lễ Tưởng niệm “Ba mươi hai năm ngày Quốc Hận”, tôi nói chuyện tại Tượng đài Chiến sĩ nên không kịp đến tham dự “Bữa cơm Cay đắng” do Tổng hội Cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh và thân hữu tổ chức. Bữa cơm cay đắng để nhớ lại những  đắng cay của một thời mất mát thương đau, nhắc nhở chúng ta “vui xuân đừng quên nhiệm vụ” đấu tranh cho dân chủ tự do mang lại ấm no hạnh phúc cho hơn 84 triệu đồng bào Việt Nam chúng ta. Tôi viết lại những tản mạn “Đoạn Trường” này để tâm tình chia xẻ những thương đau mất mát của tất cả chúng ta như một lời tạ lỗi với anh em Quốc Gia Hành Chánh và thân hữu.

     Thưa quý vị, chúng ta vừa khánh thành tượng đài nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản để bia đá ngàn thu sẽ khắc ghi tội ác của chủ nghĩa Cộng Sản đối với nhân loại trong đó dân tộc Việt Nam chúng ta. Dân tộc chúng ta đã phải chịu hậu quả nặng nề nhất với 2 cuộc di cư vĩ đại của mấy triệu người, một cuộc bỏ phiếu bằng chân có một không hai trong lịch sử nhân loại. Hàng triệu gia đình Việt Nam ly tán, hàng triệu người Việt Nam vô tội ở cả hai miền Nam Bắc đã hi sinh vì sự xâm lăng bành trướng của chủ nghĩa cộng sản nhuộm đỏ đất nuớc Việt Nam. Sau ngày mất nước, cả triệu quân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa bị trả thù giam cầm đày ải trong các trại tù. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu ngoại quốc thì hơn 65 ngàn người đã bị xử bắn và chết trong các trại tù dã man khắc nghiệt núp dưới một cái tên hoa mỹ nhưng hết sức thâm độc là “Tập Trung Cải Tạo”. Đặc biệt hơn nữa, sau ngày quốc hận quân dân miền Nam đã đứng lên chống lại sự thống trị độc tài của bạo quyền phi nhân Cộng Sản. Hàng trăm chiến sĩ tự do đứng đầu các tổ chức, liên minh, mặt trận người Việt tự do bị chế độ Cộng Sản bắt xử tử hình và hơn 300 tù nhân chính trị và tôn giáo Việt Nam, những anh hùng dân tộc trong đó có 2 vị linh mục và 2 phụ nữ, đặc biệt chị Trần Thị Lan có thai 8 tháng đã phải ra pháp trường lãnh nhận bản án tử hình.

    Cho đến bây giờ sau mấy chục năm, thế giới và ngay cả chúng ta cũng không hề biết tới sự hy sinh cao đẹp của họ, không hề quan tâm tới số phận của gia đình con cái họ. Chúng ta không hề quan tâm tới cuộc sống thê thảm của cả ngàn anh em tù chính trị trong lao tù Cộng Sản và hoàn cảnh khó khăn bức bách khi trở về bị theo dõi, phân biệt đối xử, bị cô lập khống chế kinh tế dưới chế độ toàn trị của Cộng Sản. Những người có lương tri cũng không bao giờ tin được chế độ Cộng Sản Việt Nam giam giữ những người tù chính trị trên 30 năm, quá nửa cuộc đời. Bằng chứng cụ thể là mới đây Cộng Sản Việt Nam vừa phải trả tự do cho anh Phan văn Bàn, một người bạn tù của tôi sau 30 năm tù và anh Nguyễn Hữu Cầu, một Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới được trả tự do sau khi Hoa Kỳ can thiệp sau hơn 37 năm trời lây lất sống chờ chết ở trong tù.

     Nếu không có sự lên tiếng của chúng ta và không có sự can thiệp của công luận và chính giới quốc tế thì đến bao giờ những người đấu tranh cho dân chủ mới được tự do? Chỉ có chế độ Cộng Sản bất nhân tàn bạo mới giam giữ những tù nhân chính trị gần cả cuộc đời như một Đại lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, Đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, Thượng Toạ Thích Thiện Minh, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, Biệt kích Hoàng Đình Mỹ 32 năm tù, gs Nguyễn Đình Huy, một Phan văn Bàn, một Vũ Đình Thụy người bạn chiến đấu, người em kết nghĩa trong tù mới được thả sau 31 năm 10 tháng 11 ngày tù. Tôi muốn nói tới Hướng Dương Vũ Đình Thụy, một người trẻ yêu nước nhiệt tình đã từng sống chết nơi “Thung lũng của Tử thần”, một người mà những vần thơ bất khuất trong tù đã làm rung cảm giới văn học quốc tế với giải thưởng “Quyền tự do viết văn 2007” của “VASSYL STUS FREEDOM TO WRITE” Award và được mời là hội viên danh dự của Trung tâm văn bút Hoa Kỳ/ PEN New England. Ngày 19 tháng 4 năm 2007 vừa qua, tân khôi nguyên giải thưởng Vasyl Stus Quyền tự do viết văn 2007 và tân hội viên danh dự Trung tâm Văn bút Hoa Kỳ/PEN New England. Vũ Đình Thụy đang bị chế độ Cộng sản quản chế ở Việt Nam nhưng đã được giới thiệu với báo chí tại nhà thờ First Parish Unitarian Universalist Church, thành phố Cambridge, tiểu bang Massachusetts Hoa Kỳ. Thế mà giới văn học hải ngoại ít ai biết tới sự kiện văn học của thế giới này để chúng ta có quyền tự hào hãnh diện về nền văn học Việt Nam hôm nay và mai sau.

    Ngoài ra cũng phải nhắc đến hai nhà thơ nổi tiếng văn hay chữ tốt, đó là một Trần Thúc Vũ với những lời thơ “Lửa thép” kiêu hùng: “Lá Tự Do nuôi một trời hy vọng, Cây Tự Do nuôi Dân tộc Hưng tồn. Người Việt Tự Do muôn thuở thơm danh, Danh thơm ấy bởi bao nguồn máu đổ. Máu đã đổ trên khắp miền đất nước. Triệu bàn tay chung dựng mặt trời lên, triệu hờn căm gom lại một căm hờn. Xô lệch núi xoay nghiêng trời đất lại ..!”. Ngang tàng ngạo nghễ đến độ thách thức cả anh bạn tử thần thì trên đời này quả là có một không hai: “Này tử thần, Ta dũng sĩ ôm mối hờn quốc nhục, Lòng căm căm lửa bốc những canh khuya. Thân còn nợ núi sông chưa báo đáp, Mới đành cam lưu luyến buổi phân lìa!” và nhà thơ “Chí khí hùng anh, một đời ngang dọc” cũng đã bỏ chúng ta sang một cõi khác để lại cho chúng ta một trọng trách phải hoàn thành để xứng đáng với những lời uỷ thác của bạn bè, xứng đáng là một con dân đất Việt.

     Ngoài Trần Thúc Vũ còn có một nhà thơ “Chua” chửi đời nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ miền Nam, người đã xem cuộc đời chẳng nghĩa lý gì, chẳng có một kí lô gam nào. Một người bạn cùng chung lý tưởng, một chiến sĩ hữu thệ cùng có lời thề sông núi chống bạo quyền mang lại độc lập tự do, dân chủ, hạnh phúc thực sự cho toàn dân. Xin thưa đó là Thi sĩ Tú Kếu năm nào, người đã từng xem “Sự đời như cái lá đa, đen như mõm chó chém cha sự đời ..!”. Cả hai người bạn thân thiết của tôi, cả hai chiến hữu ruột thịt của tôi cũng đã chết do hậu quả của thời gian dài trong lao lý đày đoạ, khổ ải, trầm luân!

     Thế nhưng trong tận cùng của địa ngục trần gian với những gông cùm xiềng xích, những đoạ đày khổ ải, thương đau mất mát đoạn trường đó vẫn vang lên những vần thơ bất khuất kiêu hùng của những anh em tù nhân chính trị, những người con yêu của Tổ quốc Việt Nam. Những vần thơ kiêu hùng bất khuất đó đã được cả nhân loại trân trọng và sẽ vang vọng mãi tới muôn đời.

     Trong tận cùng của cõi sống nơi địa ngục trần gian, tôi mới thực sự chứng nghiệm được ý nghĩa và giá trị của tự do và cũng trong tận cùng của đói no, chết chóc-người ta mới thấy được chân giá trị của cuộc đời, nhân cách của một con người. Tôi phải nói tận đáy lòng mình rằng tôi may mắn được sống trong khoảnh khắc mong manh của giữa sự sống và cái chết. Tôi đã gặp được những chiến sĩ kiên cường bất khuất, những anh hùng thực sự như một Linh mục Nguyễn Luân, một nhân sĩ Cao Đài Phan Đức Trọng, một Thượng Toạ Thích Thiện Minh và sau này Linh mục Nguyễn văn Lý, một anh thư Lê thị Công Nhân … và nhiều nhiều nữa những anh hùng đã và đang mở ra một trang sử mới cho dân tộc.

     Trong những ngày tháng lao tù đó, tôi suy nghĩ nhiều về những lơ là thiếu sót của mình, những yếu tố nào đã dẫn đến thảm kịch 30-4-1975, những bài học đắng cay đầy máu và nước mắt. Ba mươi hai năm nhìn lại, so với chế độ cộng sản là một địa ngục trần gian có thật thì Việt Nam Cộng hoà là một thiên đường nhưng thiên đường đó cũng còn những điều phải chấn chỉnh phải hoàn thiện. Đành rằng sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Sự tranh giành quyền lực của lưỡng đảng trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ và quyền lợi dân tộc của người bạn “Đồng minh”, sự bất tài vô tướng của thiểu số lãnh đạo bất xứng đã không biết vận dụng sức mạnh của toàn dân để diệt cộng cứu quốc lại gây ra tệ trạng tham nhũng khiến nhiều chiến sĩ quốc gia chân chính bất mãn. Thế nhưng bản thân tôi vẫn cảm thấy có một phần trách nhiệm vì đã lơ là, không làm hết trách nhiệm của một cán bộ công chức trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa để chúng ta mất nước vào tay cộng sản.

     Tôi xin cúi đầu trước những anh linh của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vị quốc vong thân, những hương hồn của hàng triệu đồng bào đã hi sinh trong cuộc chiến, của những đồng bào thiếu may mắn đã tử nạn trên biển cả trên đường tìm tự do!

     Đoạn trường bất khuất không phải là hồi ký mà chỉ là tản mạn tâm tình về những cảnh đứt ruột trong tận cùng địa ngục trần gian nhưng cũng ngất trời khí thế bất khuất của những anh em tù nhân chính trị và tôn giáo. Ngoài những vần thơ tù Bất khuất của những anh em tù nhân chính trị, tôi cũng xin gửi tới quí vị những tản mạn đoạn trường trong thời gian tù, những bài thơ của thân hữu anh em văn nghệ sĩ còn ở Việt Nam và những vần thơ tưởng nhớ mẹ hiền. Cuối cùng là mấy bài thơ lãng đãng của kẻ hèn này, một con người cũng biết yêu thương buồn vui nhưng trót cưu mang một “Mối tình lớn” nên đã phải đi tu … vâng tu huyền tù vì “chữ tù cùng với chữ tu một vần” như Thượng Toạ Thích Thiện Minh đã viết:

                   “Những người yêu nước sa cơ
                    Nỗi lòng cảm xúc làm thơ trong tù
                    Đi tù cũng giống đi tu
                    Bền tâm vững chí công phu vô vàn
                    Vườn Hồng, Cúc, Huệ, Đào, Lan
                    Thiên niên, Vạn thọ, Mai vàng, Lựu, Lê
                    Thơ tù đậm nét tình quê
                    Thắm tình dân tộc lời thề nước non
                    Hiến dâng Tổ quốc lòng son
                    Ngàn năm rạng rỡ cháu con Lạc Hồng ...