Saturday, June 14, 2014

Hồ Chí Minh, một gián điệp hoàn hảo (Kỳ 1)

Huỳnh Tâm (Danlambao) - "...Rất tiếc có một số trí thức của đảng cộng sản vẫn âm u trí tuệ, không thấy được sự giả trá của Hồ Chí Minh để rồi viết lên lời ca tụng lộ liễu, không khác nào những mũi tên tẩm thuốc cực độc ám sát cả dân tộc Việt Nam, như những bài của Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Đăng Lâm..."

 

Chúng tôi khám phá cả hai (2) tập thơ "Ngục Trung Nhật Ký" (狱中日记) hay "Nhật ký trong tù" nguyên bản và sao lục, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1932 đến ngày 10 tháng 9 năm 1933. Khẳng định rằng, hai tập thơ này hoàn toàn không phải thủ bút của Hồ Chí Minh, bởi chúng tôi có nguyên bản tập thơ, cùng những bản công văn, báo cáo viết từ năm 1940 đến tháng 6 năm 1968, và thư pháp, nay công bố tư liệu cả một đời người của Hồ Chí Minh. Toàn bộ nội dung bí mật, bao quát những diễn biến điệp vụ, sẽ được tuần tự diễn giải trong mọi chi tiết, ngoài ra còn có những mật danh sử dụng vào việc công văn, báo cáo cho tình báo Hoa Nam, chưa hề tiết lộ như trong bài viết: "Hai trăm mười tám (218) bí danh, biệt danh, bút danh của Hồ Chí Minh". [1]

 

Bạn đọc chắc chắn nhận diện được Hồ Chí Minh là ai, tổ chức bí mật nào đứng sau lưng tạo dựng tên tuổi Hồ Chí Minh, sau khi có mặt tại Việt Nam với tư cách gì, tiếp nhận mệnh lệnh từ đâu, công văn, báo cáo gửi cho đầu não cấp lãnh đạo nào của họ Hồ, và Hồ thực hiện những gì thành công hay chưa kết quả, từ khi Hồ Chí Minh xuất hiện cho đến lúc chết, thể xác được bao bọc bởi lớp vỏ nào tinh vi nhất. Tất cả những hoạt động của Hồ Chí Minh đều nằm trong kế hoạch bí mật đã bao trùm lên đất nước Việt Nam cho đến ngày nay (2014).

 

Kính mời bạn đọc dùng kính lúp soi rọi, theo dõi tiến trình xây dựng nhân vật Hồ Chí Minh, khám phá muôn ngàn bí mật đã đem đến hệ lụy đối với dân tộc Việt Nam qua 2 tập thơ của họ Hồ. Trước hết, bạn đọc lưu ý nguyên bản và bản sao lục của tập thơ 1 và tập 2 không cùng nội dung, còn một điểm khác "động trời" hơn nữa là 2 tập thơ với 2 thủ bút khác nhau. Cuối cùng mời bạn đọc, cầm chìa khóa mở tung cánh cửa thực hư, đi tìm sự thực tung tích đời người qua kho tàng công văn, báo cáo thủ bút của Hồ Chí Minh và toàn bộ thư pháp. Chúng tôi nhất định tuần tự loan tải tư liệu bí mật thành nhiều ký trong loạt bài này. Và đôi lời đa tạ những bạn thân, chấp nhận tiếp cận tài liệu và dịch thuật hầu cống hiến bạn đọc. 

*

 

Năm 1945. Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông bí mật cụng ly tại Trung Nam Hải, trước khi đưa quân vào Việt Nam đồng chúc mừng chiến thắng. Nguồn: Tư liệu Hoa Nam.

 

Diễn giải nội dung của 2 tập thơ "Nhật ký trong tù" (狱中日记), theo nguyên bản và sao lục ở dưới, làm tiêu chuẩn khám phá 2 thủ bút không đích thực của Hồ Chí Minh, cùng so sánh từng nét thủ bút của hai (2) kẻ vô danh, và thủ bút công văn, báo cáo chính thức của Hồ Chí Minh đang lưu trữ tại Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC), Cục tình báo Hoa Nam (中国情报胸卡) cùng những thư pháp của Hồ lưu trữ tại Viện bảo tàng Cách mạngHà Nội, và Viện bảo tàng Hồ Chí Minh.

 

Hy vọng bạn đọc rút ra được một chứng nghiệm lịch sử, cho thấy nhiều vấn đề cần luận giải, ngõ hầu soi sáng nhận thức được Hồ Chí Minh là ai, đã bao lâu nay, tung hoành, khuynh đảo đưa đất nước Việt Nam trở về thời đồ đá, mà vẫn che kín được thân phận nấp trong một công cụ bí mật tuyệt hảo của Hoa Nam. Tuy thế, nhưng mọi sự vật đã có xuất hiện thì cũng có phơi bày sự thật, mọi bức màn phủ kín của Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ, bởi thời gian là một định luật chứng nghiệm thực giả. Và khi phát hiện con người giả, chính đảng viên phải bỡ ngỡ không thể chấp nhận vì họ Hồ đã tự phơi bày sự thực và hiện nguyên hình một gã cướp nước, dù tình báo Hoa Nam đã phủ lên thân xác Hồ Chi Minh bằng nhiều ngôn từ cung kính, tuyên truyền hướng dẫn dư luận phải gọi Hồ Chi Minh với danh xưng là "Cha già dân tộc". Hoa Nam còn dựng đứng và thần thánh hóa Hồ Chí Minh, đưa họ Hồ vào lòng dân tộc Việt Nam, tạo ra một huyền thoại dị hợm, buộc dân tộc Việt Nam công nhận từ cổ kim không có nhân vật thứ hai, kể cả Vua Hùng cũng không được vinh dự thần thánh này!

 

Hãy nấu chảy một sao lục tập thơ. "Nhật ký trong tù", thủ bút không để lại tên tuổi. 

 

Phiên bản, sao lục tập thơ "Nhật ký trong tù" vô chủ, viết từ ngày 29/8/1932 đến ngày 10/8/1933, hiện lưu trong tủ Hoa Nam. Khi sang đến tay "Bác" tập thơ khai man trẻ lại 10 tuổi (29-8-1942 đến 10-9-1943). Ban dịch thuật và sao lục ngụy tạo những năm không tương xứng với ngày Hồ Chí Minh lao lý trong nhà giam Trung Quốc. Nguồn: Tư liệu Hoa Nam.

 

Hoa Nam sao lục tập thơ "Nhật ký trong tù" lập thành một phiên bản mới, bởi đây là nét chữ của một tay mơ, không giỏi chữ Hán. Bút pháp của Hồ Chí Minh khác xa, có kiến thức hơn, mang phong thái của một người Hán trung lưu. Nay được lãnh đạo Hoa Nam giao công tác nhận đại một tập thơ bá vơ làm của mình và ngay bản thân Hồ Chí Minh cũng chưa bao giờ thấy nguyên bản "Nhật ký trong tù". Từ đó cho đến nay (2014) nhân dân Việt Nam chỉ thấy được tập thơ giả tạo này, chưa ai thấy nguyên bản, và do đó đã trở thành huyền thoại. Đảng và nhà nước Việt Nam cho trưng bày tại Viện bảo tàng Cách mạng Hà Nội, và Viện bảo tàng Hồ Chí Minh.

 

Hoa Nam sao lục lại tập thơ vô chủ trên, chứng tỏ Hoa Nam muốn giới thiệu tập thơ, thuật viết chữ Hán non tay, người ta có thể đoán được tuổi và người. Bút pháp cho thấy nhân vật này độ ngoài 50 tuổi, chưa mài ghế nhà trường, vì một khi viết, chữ Hán phải nằm trong ô kẽ của trang giấy, thẳng hàng không được viết cẩu thả, nói đến thơ ca càng khó hơn, khi viết, chữ không được to hay nhỏ phải đều nhau, và buộc nghiêm chỉnh thẳng hàng theo ô kẻ. Ở đây kẻ viết láu tháu, có tính buông trôi và bi quan. Còn một điều khác lạ nữa là tập thơ không ghi tên tuổi tác giả, điều này cho thấy chính tác giả vô danh của tập thơ này đã không tự tin về mình, có ít nhiều biểu lộ nội dung tập thơ quá tầm thường, cho nên không nhất thiết đề tên tuổi trên đầu tập thơ, tuy ít học nhưng ý thức được giá trị sống.

 

Theo hồ sơ mật của Hoa Nam mã số (pfzwhn32tt4875): "...Lúc bấy giờ người cộng sản cần cướp chính quyền bất chấp hậu quả, đào tạo một lãnh tụ cho Đông Dương quá khó, chi bằng thủ thuật tráo trở, vốn đã có biệt tài xoay xở, bấm độn tìm người cần kíp. Hoa Nam vận dụng mọi ma kế, bất chấp thủ đoạn để đạt đến mục đích riêng, chạy theo thời gian trong lúc khẩn cấp đang cần thành lập mật khu "Pác Bó" không thể đưa một người Hán vào biên giới Trung-Việt, dù Hồ Chí Minh đã có thừa bản lĩnh nhưng không thể đưa đến mật khu vào lúc này! Hoa Nam đã chọn lựa nhiều nhân vật cũng không phù hợp. Cuối cùng lấy quyết định chọn Hồ Chí Minh giả danh tộc Việt, vì Hoa Nam tìm mãi cũng không ra một người Việt có xu hướng chính trị Vô Sản. Trước đó, họ tuyển chọn được Nguyễn Ái Quốc, nhưng không may anh ta lại là người của KGB, và là tên gián điệp nhị trùng, làm tình báo cho Pháp với trách nhiệm tiếp cận, xâm nhập vào những nhóm người Việt sống tại Paris và tỉnh Marseille miền Nam nước Pháp, cuộc đời ngắn ngủi anh ta bị Moskva thủ tiêu. Người thứ hai được tuyển chọn là Nguyễn Tất Thành, sau đó ở tù Hương Cảng cũng không qua khỏi tử hình, vì tội làm điệp viên KGB. Năm đó Tất Thành hưởng dương đúng 40 tuổi (1892-1932).

 

Mưu đồ của Hoa Nam được xem đến đây tuyệt lộ, chọn người đã có chủ, thế nhưng nhu cầu làm sống lại Nguyễn Tất Thành mới quan trọng, muốn nối lại một nhịp cầu cách mạng cướp giựt, thay da đổi thịt, tô vẽ tiểu sử một nhận vật ở trong tầm tay của Hoa Nam, tuy nhiên bản năng sinh tồn phải vượt trội của một người gián điệp cần phải có, đi đôi với khả năng bẩm sinh thực tài trí, đối với Hoa Nam rất cần đến loại người này nhưng khó tìm.

 

Một lần nữa tình báo Hoa Nam thất vọng. Lúc này Lưu Thiếu Kỳ vừa kiêm nhiệm lãnh đạo Cục Hoa Nam, muốn chứng tỏ với Mao Trạch Đông về khả năng tình báo của ông. Lưu Thiếu Kỳ đưa ra nhiều giải pháp và Mao chấp nhận "Áo Đen Đông Dương", đề nghị tất cả thành viên thuộc cấp lãnh đạo Hoa Nam tìm kế hoạch khả thi nhất, thực hiện công tác đảo lộn Đông Dương.

 

Tuần lễ sau, những lãnh đạo Hoa Nam cho biết, hiện có lưu một thư mục báo chí xuất bản vô chủ, trong đó có tập thơ "Ngục Trung Nhật Ký" (狱中日记).

 

Lưu Thiếu Kỳ lấy quyết định sao lục tập thơ "Nhật ký trong tù" của vô danh nào đó ở Trung Hoa. Từ lâu Hoa Nam đã tậu được tập thơ này, nay đem ra thực hiện việc lớn, cho nên lãnh đạo Hoa Nam giễu cợt gọi nó là "Nhật ký trong tủ", ẩn ý muốn nói, tập nhật ký vô chủ lưu trong tủ không ngờ nay hữu dụng đem ra dùng với tên giả Hồ Chí Minh. Thế là phiên bản "Nhật ký trong tù" chào đời, cùng đi với người vô cảm đến một xứ xa lạ. Riêng nguyên bản "Nhật ký trong tù" tiếp tục ngủ yên vĩnh viễn trong tủ tư liệu; tuy trước đó, lãnh đạo cục tình báo đề nghị thiêu hủy tập thơ này.

 

Với một thủ đoạn mới, Hoa Nam dựng đứng nhân vật Nguyễn Tất Thành và cho sống lại, bằng cách Hồ Chí Minh tự nhận là Nguyễn Tất Thành vẫn sống và có sáng tác được một tập thơ Hán. Lương tâm của người bình thường không cho phép bóp méo mọi chân thực của một nhân vật khác, thế nhưng Hồ Chi Minh làm được, miễn sao người ta tin Nguyễn Tất Thành còn sống, chứng minh tác phẩm thơ "Nhật kí trong tù" đang có trên tay, ghi ngày, tháng, năm na ná trùng hợp năm Nguyễn Tất Thành sinh trưởng. Từ đó người chết, thơ vô chủ được cài cắm vào Hồ Chí Minh hứa hẹn đưa dân tộc Việt Nam vào một ngõ rẽ thống trị của Cộng sản phương Bắc.

 

Thậm chí sau này, nhân dân Việt Nam thờ phụng tập thơ cướp, bá vơ của Hồ Chí Minh, nó được luông tuồng trong thi ca Việt Nam, dù tập thơ không ra gì, đảng Cộng sản vẫn phải đưa vào chương trình giáo dục trong đảng và nhân dân, buộc ca tụng thánh nhân, làm vật gối đầu, đêm đêm ngủ yên ổn nhờ nằm mơ thấy "Bác". Trong chính trị Cộng sản không luận bàn nhân cách lương thiện, tình báo Hoa Nam cũng không ngoài mục đích cướp đoạt, một bộ phận vô luân lý với những xảo thuật bất minh không hề câu nệ (Xem Hậu Hắc Học - Lý Tôn Ngô), cướp một tập thơ vô chủ tạo ra bút pháp hiện diện, sao chép lại nguyên bản tập thơ hoán đổi phụ bản, tập thơ rẻ tiền không giá trị đưa vào giáo dục nhân dân Việt Nam học văn hóa Hán, lấy một thể xác đã chết từ lâu, phẫu thuật lại tráo người sống, lấy một con giun Nguyễn Tất Thành hóa rồng Hồ Chí Minh của Đông Dương.

 

Toàn Cầu Báo Trung Quốc (中国俱乐部) bình luận về tập thơ "Nhật ký trong tù" vô chủ và phiên bản mạo bút, tiếp theo Quân ủy Trung ương Trung Quốc(中国中央军事委员会CPC) thời Lưu Thiếu Ký, tiết lộ:

 

"− Hoa Nam, thực hiện một điệp vụ nan vấn, dàn dựng vở kịch đã đạt đến đỉnh cao chiến lược, độc đáo nhất trong đoạn Hồ Chí Minh nhăn nhó, tỏ ý không hài lòng 133 bài trong tập thơ "Nhật ký trong tù", viết từ ngày 29-8-1932 đến 10-9-1933, rất tiếc không đề xuất xứ, chỉ biết một lãng nhân nào đó người Trung Hoa, đương nhiên đồng chí Hồ Chí Minh cầm nhầm "Nhật ký trong tù", để rồi canh cánh bên mình một dấu ấn tiểu sử không lấy gì làm đẹp cho lắm.

 

Sau đó đảng Cộng sản Việt Nam của Hồ Chí Minh tạo dựng thêm một phiên bản hai mới hơn Hoa Nam nhưng không đúng thời gian tính:

 

- Phiên bản hai, "Nhật ký trong tù", sao lục bất minh, nội dung không thay đổi, tuy nhiên thêm vào 1 bài thơ mới, tổng cộng 134. Vấp phải lỗi lầm thay đổi năm xuất hiện tập thơ (29-8-1942 đến 10-9-1943), thay vì 29-8-1932 đến 10-9-1933. Thế là có đến 2 tập thơ phiên bản "sao y thất bổn" bản mới, xuấn hiện sau 10 năm, đưa đến thời gian không phù hợp cho tập thơ "Nhật ký trong tù" cũng vào năm ấy Nguyễn Tất Thành ở trong tù tại Hương Cảng.

 

Diễn biến thực hiện phiên bản hai "Nhật ký trong tù", miêu tả lãnh tụ Hồ Chí Minh khổ nạn, bi thương, lâm ly, và hấp dẫn theo nghĩa một câu chuyện tồi. Vào tháng 8 năm 1942, Hồ Chí Minh bị cảnh sát huyện Quế Hệ Hương (桂系乡), bắt tại biên giới Trung-Việt, giam những nhà tù của Tưởng Giới Thạch, sau đó di chuyển đến nhà tù huyện Tĩnh Tây (靖西), Thiên Bảo (天保), Đức Bảo (德保), Điền Đông (田东), Bình Qùa (平果县), Phù Tuy (扶绥县), Vũ Ninh (武鸣), Tân Dương (宾阳), huyện Vĩnh (荣), Nam Ninh (南宁), Long Tuyền (龙泉), Điền Đông (东填), Quả Đức (绩德), Long An (龙安), Đồng Chính (龙安), Bào Hương, 在主, Lai Tân (谭丽), Liễu Châu (柳州), Quế Lâm ( 桂林) thuộc tỉnh Quảng Tây广西. Và Túc Vinh Vu (足荣圩) tỉnh Trùng Khánh (重庆), di chuyển đi, di chuyển lại trên 30 nhà tù của 13 huyện tỉnh Quảng Tây và tỉnh Trùng Khánh. Ra tù ngày 10 tháng 9 năm 1943. Bọn Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch ác thực, đày ải "Bác" trải qua 1 năm "Bác" trong tù, thêm một lần nữa "Nhật ký trong tù" thủ vai giả mạc. Trong khi ấy Hồ Chí Minh sống nhởn nhơ và bình an tại vùng Việt Bắc giáp biên giới tư trị của người Choong. [2]

 

Ngoài ra còn có những con người Việt đáng khinh bỉ hơn cả Hoa Nam, họ đua nhau, ca tụng tập thơ "Nhật ký trong tù" để mưu cầu sự sống, vay mượn Hồ Chí Minh làm đầu mối sáng tác về những huyền thoại kỳ dị, dùng con chữ công phu thêu dệt, từ không tưởng mơ hồ, biến chúng thành ý tưởng chưa bao giờ hiện thực, vô hình chung biến những tác phẩm ấy thành phản tác dụng, thành những tác phẩm đần độn nhất, lưu truyền trong dân gian một thời đại để làm trò cười. Một tội ác khác, tập đoàn Hoa Nam (Cộng sản Việt Nam) nhồi nhét đưa vào giáo trình học đường tẩy não tuổi trẻ Việt Nam, ngoài xã hội cả nước học tập bình thơ, theo hướng chỉ đạo của "Bác", quyết chí ngu dân.

 

Rất tiếc có một số trí thức của đảng cộng sản vẫn âm u trí tuệ, không thấy được sự giả trá của Hồ Chí Minh để rồi viết lên lời ca tụng lộ liễu, không khác nào những mũi tên tẩm thuốc cực độc ám sát cả dân tộc Việt Nam, như những bài của Nguyễn Trọng Hoàn: "Nhật kí trong tù - những giá trị trường tồn". Nguyễn Đăng Lâm: "Nhật ký trong tù, văn kiện lịch sử vô giá, tác phẩm văn học lớn". Phương Thúy/VOV.VN: "Nhật kí trong tù" - Một hồn thơ trong một nhân cách văn hóa - Bằng ngôn ngữ đời thường, nôm na nhưng "Nhật kí trong tù"của Bác Hồ luôn được coi là áng văn mẫu mực.... ". NS Huy Thục: "Bác Hồ là vị cứu tinh cho nhạc phẩm của tôi". Lê Cường: Thơ tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một giá trị văn hóa v.v…. Chúng tôi không thể kể hết những thành phần trên, hẹn dịp khác. Hy vọng quý cây bút hãy sống thực lòng mình, viết bằng tâm tư can đảm, nhận diện, phân tích thủ bút của Hồ Chí Minh, đừng cầm nhầm hay lớn tiếng tung hô tên bán nước "cha già dân tộc".

 

Tập thơ "Nhật ký trong tù" vô chủ, được những nhà xuất bản và tái bản tại Hà Nội, mà Hồ Chí Minh cố ý cầm nhầm với ngụ ý đẩy đưa dân tộc Việt Nam cướp thơ Hán ư? Không như người Hán đến nước Việt Thường (Việt Nam) xem một con rùa 1.000 năm, trên mai có chữ Khoa Đẩu, dâng cho Đế Nghiêu (2358 TCN). Sau đó kẻ Hán cướp rùa chữ Khoa Đẩu, chạy trốn cho đến ngày nay.

 

Theo hồ sơ báo cáo của Hoa Nam, mật mã [vnđltq2587e45]: ".... khai thác trong giới Văn nghệ Việt Nam, cũng có những người mượn "Nhật ký trong tù" làm bùa hộ mạng hay lấy nó làm bước đường thăng tiến... Hoa Nam bảo trợ trên 16 lần tái bản....". Nguồn: Images Net.

 

Tình báo Trương Định Chế (张定制) gửi văn thư về Cục Hoa Nam có mật mã [vnđltq2587e45]. Cho biết những "bon chen" trong giới văn nghệ đảng Công sản và nhà nước Việt Nam, không phải là không có những tên tồi, chỉ biết sống theo lệnh hay vô tình gián tiếp làm việc cho Hoa Nam, họ không hay biết Hoa Nam âm thầm thực hiện chiến lược văn hóa Hán tràn vào đất nước Việt Nam, và những bài viết của họ ca tụng hết lời, hai tay bưng Hồ Chí Minh lên đỉnh cao thần thánh văn học, họ tính toán quyền lợi trên lương tri, chỉ biết chạy theo lợi, quên bẵng ngày sau có người phê phán, thực sự họ sống trong ý tưởng hành nghề viết văn thuê. [3]

 

Bài tham khảo của học giả Lê Hữu Mục, "Ngục Trung Nhật Ký" cũng khẳng định không phải của HCM. Xin trích nguyên văn dẫn chứng:

 

".....Một sự kiện bất thường hình bìa tập thơ ghi rõ ngày 29/8/1932 đến 10/9/1933. Khi sao lục và dịch thì lại sửa thành ngày 29/8/1942 đến 10/9/1943? Hồ Chí Minh vẫn còn đó không đính chính, giữ mãi thái độ lặng im cho đến ngày chết. Nếu Hồ Chí Minh làm ra những bài thơ này vào giai đoạn 1942-1943, tại sao Trần Dân Tiên (bút danh của Hồ Chí Minh) không đề cập tới những sáng tác của ông khi cho ra cuốn "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh" vào "1948? Đây là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó ông Hồ tự viết về mình, tự ca ngợi đánh bóng cá nhân ông ta. Những bài thơ hay như vậy mà ông không nhớ ra để ghi chép vào sách hay sao?" [4]

 

Chúng tôi tìm được nguyên bản tập thơ "Nhật ký trong tù" (狱中日记), thủ bút của kẻ vô danh. Cho thấy những phiên bản trước đây, phát xuất từ Hoa Nam, giả bút bản gốc, đủ chứng minh tập thơ này nhất định không phải của Hồ Chí Minh, càng nhận diện được tính giả trá của Hoa Nam và đảng cộng sản Việt Nam không bao giờ giới hạn mưu lợi-quyền. 

 

Tập thơ nguyên bản "Nhật ký trong tù" (狱中日记), với bút pháp dày dạn từ đầu bút tiết ra một lượng mực trung bình, viết nhẹ tay đều đặn, mạnh mẽ trong nét chữ sắc sảo nhưng không thoải mái, có trình độ học vấn, man mác sắc thái mênh mông, phong thái của một người Hán đã từng trải nghiệm cuộc đời. Nếu đem so sánh bút pháp nguyên bản của kẻ vô danh và phiên bản mạo nhận của Hồ Chí Minh "Nhật ký trong tù". Người ta nhận diện 2 bộ chữ khác nhau, lòi ra sự giả quá rõ ràng, nếu không có nguyên bản ắt nhiên khó ai biết được Hồ Chí Minh cướp tập thơ của thiên hạ, từ đây nhân dân Việt Nam có quyền ca ngợi "Hồ già cướp thơ". Nguồn: Hoa Nam lưu trữ nguyên bản "狱中日记" (Nhật ký trong tù).

 

Đã đến lúc đảng cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh phải rút ra một bài học cướp tập thơ "Nhật ký trong tù" (狱中日记), hãy trả lại cho người ta, và tất cả những tập thơ đã ấn loát nay đóng khuôn triện đỏ (Bác Cầm Nhầm). Hy vọng "Bác" thực hiện được điều này!

 

Đất nước Việt Nam có quá nhiều chuyện lạ, nhất là thơ-văn tiếu lâm từ khi có "Bác" du nhập. Do nguyên nhân từ căn điểm phiên bản tập thơ "Nhật ký trong tù" (狱中日记), đưa đến mỉm cười chua chát, bởi lời thơ ấy của "Bác" đứng trên thời đại chưa bao giờ sáng lòa trong đêm đen tối của lịch sử Việt Nam hôm nay.

 

Cũng nên chú ý một cách tường tận, sau khi tập thơ lên kế hoạch điệp vụ, Hoa Nam mới vẽ thêm đôi tay bị xiềng, nắm chặt lại đưa lên, do đó không có tính cảm xúc. Chi tiết hơn, nguyên bản và phiên bản "Nhật ký trong tù" hai hình bìa khác nhau. Nguyên bản, vẽ đôi tay bị xiềng màu mực nhạt, còn phiên bản màu mực đen đậm và nhiều nét hơn, cho thấy dù Hoa Nam có thừa khả năng cho mấy hay khéo suy tưởng cũng có những điểm sơ hở bởi dối trá không thể nào che giấu sự thật cả đời.

 

Sau khi khám phá tìm hiểu cả 2 tập thơ nguyên bản và phiên bản "Nhật ký trong tù" của kẻ vô chủ trên.Trong đầu của chúng tôi, luôn luôn có cảm giác ám ảnh lành lạnh, biết được nguồn máy Trung Cộng sáng tạo lãnh tụ Hồ Chí Minh qua tập thơ, cùng lúc có những cán bộ cao cấp người Hán đưa vào cai trị Việt Nam bằng phương thức tráo người bất minh. Những thập niên sau này Trung Quốc trực tiếp đào tạo cán bộ lãnh đạo trung ương đảng cộng sản Việt Nam tại Viện Chính trị Quế Lâm.

 

Tiếp theo, chúng tôi khám phá được một kho tàng nguyên bản công văn, báo cáo bút tích đích thực của Hồ Chí Minh, hiện nay vẫn còn lưu trữ trong các cơ quan của Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC) hay Cục Hoa Nam tại Bắc Kinh. Nay chúng tôi công bố những tư liệu này, hy vọng nhân dân Việt Nam cùng nhau nhận diện Hồ Chí Minh là ai. Đảng cộng sản Việt Nam tôn vinh tư tưởng trần trụi của Hồ Chí Minh để làm một bình phong vì đảng cần sống trong vòng tay của Trung Cộng.

 

Những nguyên bút tích của Hồ Chí Minh đủ chứng minh, soi tỏ trước dư luận với những dữ kiện lịch sử 74 năm (1940-2014) đã đưa đất nước, dân tộc Việt Nam vào con đường tận cùng điêu linh, lạc hậu, mất lãnh thổ, lãnh hải, tất cả đều nằm trong kế hoach bành trướng của Trung Quốc.

 

Năm 1945, theo mật báo của Trương Định Chế (张定制) tình báo Hoa Nam, gửi bản tin từ Hà Nội cho Bắc Kinh:

 

- Báo cáo viên Hồ Chí Minh, trực tiếp gửi những công văn về Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC), từ đó trình lên Chủ tịch Mao Trạch Đông sau khi được chuẩn y chuyển đến Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, v.v... Cục tình báo Hoa Nam lưu trữ hồ sơ, văn kiện thủ bút của Hồ Chí Minh tại mã số (ythq159ha587).

 

Nguyên bản, Công văn mã số 380 của "Bác", cũng được lưu trữ tại Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC). Tất cả công văn viết bằng ngôn ngữ Quan thoại, trình độ học vấn đại học của một người Hán phong lưu, bút pháp dày dạn, chữ sắc bén ở phần đuôi, thiên hạ Hán cho đây là loại chữ mã tấu, nếu so sánh bút pháp của nguyên bản "Nhật ký trong tù" vô chủ kia và phiên bản, dĩ nhiên bút pháp của Hồ Chí Minh trội hơn trăm lần. Tuy nhiên cá tính khác thường, mẫu người lơ láo, mưu ma, chước quỉ chỉ thích hợp cho công việc gián điệp hơn là lãnh tụ, sau này Hồ Chí Minh vừa là gián điệp cho Trung Quốc vừa là lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam, một vung tay trời tội ác. Nguồn: Nguyên bản, Công văn mã số 380, Hoa Nam lưu trữ.

 

Về nguyên bản, bút tích chữ Hán của Hồ Chí Minh, trong nội dung công văn mã số 380, viết theo thuật ngữ gián điệp, chứa những ẩn hàm đặc biệt có quá nhiều mật ngữ, thành ngữ, mật danh, mật mã, bí mật điệp vụ. Lối viết văn này chỉ để cấp lãnh đạo của đảng và bộ tham mưu điệp vụ mới biết thuật ngữ trong tài liệu, chỉ cần một dấu chấm trọng yếu, Bắc Kinh sẽ thảo ra một kế hoạch hành động, chứng tỏ "Dân Thụy" một gián điệp thượng thặng được đào tạo chính qui, thuở đó chỉ có Học Viện Võ Bị Quân Sư Chính Trị Hoàng Phố.

 

Vả lại, nếu công văn này bị đánh rơi hay mất cắp, người sở hữu khó hiểu nội dung của nó, tuy nhiên nếu công văn mã số 380 rơi vào những cơ quan tình báo quốc tế sẽ được giải mã tức khắc. Ắt nhiên, Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ thấy qua những công văn của Dân Thụy gửi cho Bắc Kinh, nếu đã thấy qua không khác nào kẻ trộm liếc mắt nhìn vào một toa "thuốc bắc" của "Bác" để rơi đâu đó. Cũng có thể tình báo đảng Cộng sản Việt Nam không dám giải mã bí mật "Bác bán nước" hay không đủ khả năng biết con chữ Hán, do đó những công văn của "Bác" tự nó đã bí mật, nhân dân Việt Nam không bao giờ biết được công văn mã số 380, chứa nội dung "tội tày trời" của Bác và Trung Cộng. Một lý do đặc biệt khác "Bác" bán nước không thể viết chữ Việt được xin thông cảm, hai nữa chữ Việt "Bác" viết không lưu loát, bởi "ý từ" không đủ miêu tả công văn chứa đầy ẩn nghĩa của một gián điệp cần chuyên chở.

 

Chúng tôi quá lý thú, sau khi khám phá được người giả, việc giả hiện nguyên hình Hồ Chí Minh qua tên Dân Thụy, tất nhiên phải công bố và để hết tâm trí giải mã nội dung nguyên bản những công văn bí mật, cùng lúc phân tích những diễn biến và chi tiết "trùng trùng điệp điệp" qua những điệp vụ của Dân Thụy, tiếp theo tuần tự giải mã 214 công văn, báo cáo còn lại. Cũng là một dịp tặng cho đảng Cộng sản Việt Nam những tài liệu về "Bác Hồ" tài tình để chiêm ngưỡng.

 

Mời bạn đọc bước qua một thế giới ngôn ngữ gián điệp, tìm hiểu nguyên văn, bút tích của Thành viên Chính trị Cục Tình báo Trung ương Trung Quốc. Mật danh Dân Thụy (thứ 220 của Hồ Chí Minh), đại biểu Chính trị Cục Việt Cộng. Công văn gửi:

 

- Công văn mã số 380 (năm Thìn). (1)

Ngày 26 tháng 3 năm 1947 (Thìn).

Trung Hầu Đài Lải. (2)

Yết kiến thiết đảng chí tài liệu. (3)

Trung Cộng Trung ương. (4)

Quốc gia đảng có 20 năm cách mạng, lịch sử đặc biệt là (85 tháng 9) với 1 năm trừ bị phiến tranh. (5)

Cố nhiên phong phú "họp bảo quý linh nghiệm" với Việt Nam. (6)


"Trường kỳ kháng chiến và chiến tranh", tiến tới tái thiết quân đội, củng cố chính quyền kiến lập tân dân xã hội chủ nghĩa, kinh tế, chính trị, và văn hóa Hán theo "chỉ thị của Chủ tịch Mao", có nhiều ý nghĩa vì chúng ta yêu cầu "hệ thống giới thiệu phát xuất" do chúng ta liên hệ với "tài liệu và văn kiện". (7)


1 ‒ Quan hệ Trung cộng cách mạng kinh nghiệm những "mấy vấn đề lịch sử". (8)


2 ‒ Hoàn toàn "qui phục chân lý" của Chủ tịch Mao Trạch Đông. (9)


3 ‒ Đồng chí Mao Trạch Đông yểm trợ quân sự, tin tưởng với tất cả chiến tranh, giáo dục tài liệu như "Dân chủ cách mạng chiến lược" và "Vấn đề chiến tranh đối với ông Thầy" (Mao Trạch Đông) đã tuyển chọn tôi (Hồ) "đúng lúc và cần thiết". (10)


4 ‒ Làm lại "3 phong trào kinh nghiệm", chúng ta tiến tới dịch lại những văn kiện của phong trào. (11)


5 ‒ Trung cộng Trung ương cho cách mạng có liên hệ với chính quyền kiến thiết dân quyền và "bạch gủi" (da trống) làm "viền nhiều vấn đề", lấy chỉ thị tạo thị uy, lãnh đạo, cải tạo trong đảng, có sức lực để tự "giống như cái kiến" (gương) tự xoi thấy mình. (12)


6 ‒ Liên hệ Quốc tế với Trung cộng vấn đề phân tích tình báo "Tây tốc cho mọi quảng bá đến người bên ngoài đảng để nghe chương trình phát thanh". (13)


7 ‒ Vì "bảo chúng" (cải tạo) có thể cấp tốc cho người ta nghe, những báo cáo tăng thêm liên hệ với thời gian. (14)


Thành viên chính trị cục tình báo trung ương.


Đại biểu chính trị cục Việt Cộng.


Ký tên


Dân Thụy (Mật danh thứ 220 của Hồ Chí Minh)


Những nơi lưu trữ công văn mã số 380.


- Đại thuận mật mã: 8.10/16.

- Trung cổ thâu mật mã: 11.50/16.

- Cục tình báo Hoa Nam.

Mao Trạch Đông xem bản báo cáo chính trị và văn bản "Chính phủ Liên minh" của Hồ Chí Minh. Tướng quân Chu Đức báo cáo thêm bằng miệng một số vấn đề hiện tình Việt Nam. Nguồn: Quân ủy Trung ương Trung Quốc.

 

Giải mã, nguyên văn, bút tích của Thành viên Chính trị Cục Tình báo Trung ương Trung Quốc (中央情报局的成员政治部主任). Mật danh Dân Thụy (thứ 220 của Hồ Chí Minh), đại biểu Chính trị Cục Việt Cộng (代表当地的越南共产党的政治). Tuần tự, diễn biến theo nội dung công văn, và mọi chi tiết trong 14 điệp vụ do Dân Thụy thực hiện:

 

(1) Công văn. Mã số 380 (năm Thìn). 调度: 代380码. Ký tên gián điệp Dân Thụy (人瑞). Mật báo, gửi đến Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC), trước đó đã gửi những công văn và báo cáo có mã số 001 đến 379.


Ngày 26 tháng 3 năm 1947 (Thìn). Gửi công văn mã số 380.


(2) Nơi gửi đi: Quân ủy Trung ương Việt Cộng. Nơi nhận: Cộng hòa Nhân dân Giải phóng Trung Cộng (共和国中国人民解放).


(3) Dân Thụy (Đệ) gửi Mao Trạch Đông (Huynh) tài liệu báo cáo mọi chi tiết. (胡志明毛泽东发送一份详细的报告文件).


(4) Kính thưa: Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC) và Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). 尊敬的中共中央军事委员会(CPC), 和人民解放军(PLA).


(5) Từ lúc đảng ta đứng lên vận dụng cách mạng vô sản, cướp được chính quyền thành lập nhà nước Trung Cộng, cho đến nay lịch sử đảng đã trải qua 20 năm; đặc biệt cuộc "cách mạng 85 tháng 9" dẫn đường đảng thành công. (国民革命党有20年来,特别是历史(85月),1年战争储备刀片).


Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc tạo điều kiện thành lập nhà nước Việt Cộng, lấy kinh nghiệm lịch sử "cách mạng 85 tháng 9" (Cuộc nội chiến lần đầu tiên - 第次国共内战) nhằm thực hiện cuộc cách mạng tương tự tại Việt Nam.


(6) Cố nhiên, tôi (Dân Thụy) còn nhớ năm đó (1945) chiến thắng lớn, nhờ kinh nghiệm trừ bị quân sĩ, quân lương phong phú, chuẩn bị hoàn chỉnh trước chiến tranh, khai trừ được những "Kẻ phản bội kháng chiến" (抗日时期的汉奸), (Ám chỉ chính quyền phe Quốc gia), ta đã chiến thắng cướp được chính quyền, cũng phải kể đến chiến công của tập đoàn cố vấn quân sự quyết tâm đào tạo được một lực lượng dân quân Việt Nam cùng dưới cờ đảng Ta (Trung Cộng) mạnh mẽ chiến đấu, sức mạnh của quân đội ta độc thủ, bảo đảm đáp ứng nhu cầu chiến trường Việt Nam (确保您满足越南战争), nay đã chiến thắng, nhờ ơn đảng phối trí quân đội nhiều kinh nghiệm quả nhiên tài tình. Tất nhiên, chúng ta đã trải qua nhiều gian lao với tinh thần cách mạng cao và nhất định Việt Nam cũng sẽ trong lục địa đất nước Trung Quốc (越南也将在中国大陆的国家给予).


(7) Trường ký kháng chiến và chiến tranh, tiến tới tái thiết quân đội, củng cố chính quyền kiến lập tân dân xã hội chủ nghĩa, kinh tế, chính trị, và văn hóa Hán, đồng ý thực hiện theo chỉ thị của Mao chủ tịch. Chúng tôi yêu cầu chính trị cục "tình báo" trung ương khởi động tuyên truyền giới thiệu chủ nghĩa vô sản đi sâu vào quần chúng Việt Nam, và xin được trực tiếp liện hệ với tài liệu, văn kiện có nhiều ý nghĩa cách mạng vô sản.


Vừa rồi, quân ta đối mặt với những mối đe dọa đến từ quân Pháp tại biên giới Việt Nam-Trung Quốc, đảng Ta sáng suốt lấy quyết định bí mật gửi thêm quân đội( 军事 ) cùng nhóm tư vấn, chỉ đạo tiến quân vào Việt Nam, buộc quân Pháp ra khỏi Việt Nam. Như trước đây Huei (bí danh Hồ Chí Minh) chấp nhận hoạch định chiến lược của Mao chủ tịch (毛泽东) đã từng cho rằng đảng ta khôn ngoan và vững chắc, có như thế mới bảo vệ được biên giới Việt Nam vì an ninh cho Trung Quốc.


Nhắc lại công văn "bản chất lịch sử" mà Hồ Chí Minh ký tên (Huei), tuy lúc ấy chấp nhận nguy hiểm trước tình trạng đối mặt với Moscow, đổi lấy sự hỗ trợ của Chủ tịch Mao, và đáp ứng được những yêu cầu của Huei, như cho phép thành lập Cộng hòa Nhân dân Việt Nam vào tháng 8 năm 1945, cùng lúc đó tránh được quân Pháp, phát động cuộc chiến tranh toàn diện xâm lược biên giới Tây Nam Trung Quốc như trước đây.


Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Dân Thụy vui mừng, lúc đó quân đội Trung Quốc thừa dịp kháng cự anh dũng, đánh bại, bao vây một số lực lượng quân đội đảng phái chính trị Việt Nam và đã "truy quét sạch" (扫荡).


Hiện tại Dân Thụy vẫn tuân thủ các điều khoản của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (中华人民共和国), thời gian này VN-TQ liên kết lên án Liên Xô "chủ nghĩa bá quyền " (霸权主义). Liên Xô thực hiện "chủ nghĩa bá quyền trong khu vực" (地区霸权主义), và "chủ nghĩa bá quyền mặt trận quốc tế" (反霸国际统一战线). Dân Thụy đồng ý lời kêu gọi của Mao chủ tịch "vô sản toàn thế giới cùng nhau chống lại Liên Xô" (人民日报).


Tình hình vào thời điểm đó, tháng 1 năm 1947. "Báo nhân dân hàng ngày (人民日报) đã loan tin Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, kịch liệt chống Liên Xô. (人民日报报道胡志明,毛泽东在1947,年苏联). Dân Thụy, thay mặt các nhà lãnh đạo đảng tại Việt Nam (gồm đảng viên VN và TQ). Trân trọng báo cáo mọi diễn biến hàng ngày, chuyển về Quân ủy Trung ương Trung Cộng. [5]


(8) 1 ‒ Việt Nam phải trải qua những kinh nghiệm cách mạng quan hệ với Trung Cộng (mấy vấn đề lịch sử Việt Nam liên hệ Trung Quốc) 中国与越南的端口发生了革命性的经验关系(中国在越南历史上的事宜).

 

Hồ Chí Minh "Cha già dân tộc" Việt Nam, bí mật đến Bắc Kinh tìm viện trợ nơi Mao Trạch Đông. (越南秘密到北京寻求毛泽东的帮助胡志明"的民族之父"). 

 

Trung Quốc bí mật thành lập đại diện Trung Cộng tại Hà Nội dưới sự lãnh đạo Hồ Chí Minh, nhưng tình hình xã hội không theo ý tưởng mong muốn của Trung Quốc, phần lớn miền Bắc có những vị trí chiến lược, các hải cảng, giao thông, thành phố, vùng lãnh thổ và cơ sở tài sản khác ở Việt Nam vẫn còn nằm trong tay của quân đội Pháp, còn phía Việt Nam tính từ biên giới sang Việt-Trung hoàn toàn do quân đội Pháp kiểm soát. Hai đảng Việt Nam-Trung Quốc và chính phủ, các cơ quan lãnh đạo quân sự chỉ được di chuyển từ Hà Nội đến phạm vi vùng rừng núi, đã kiểm soát được trên bản đồ "da beo" của miền Bắc Việt Nam.

 

Thời điểm này, Hồ Chí Minh chưa có ảnh hưởng nào đối với cộng đồng quốc tế. Do đó, không có quốc gia nào công nhận nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, những tổ chức quốc tế làm ngơ mối quan hệ này. Dân Thụy nhờ Trung Cộng giới thiệu liên lạc với thế giới bên ngoài. Theo một số truyền thông Phương Tây đã loan tải:

 

"- .... Những nhà lãnh đạo của Cộng hòa Hồ Chí Minh là một "bóng ma" của Trung Cộng. Vì vậy, Việt Nam không có vị trí trên trường quốc tế, tệ hại hơn không nhận được bất kỳ viện trợ nào từ bên ngoài...".

 

Hồ Chí Minh viết một lá thư tay gửi Mao Trạch Đông, yêu cầu cho phép trực tiếp liên lạc với Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Ký, Đặng Tiểu Bình và Đặng Dĩnh Siêu. Mục đích duy trì mọi liên lạc bí mật, bức thư đầu tiên, Hồ Chí Minh gọi Đặng Dĩnh Siêu "Ân Tỷ" (恩哥). Đôi lúc Hồ Chí Minh viết thư gọi Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu là "Đại huynh và tỷ". Hồ, tin cậy Chu Ân Lai thường viết thư "Nhớ anh Trai thay mặt đệ, hỗ trợ, vận dụng uy tín giúp cho (công ty) của đệ được phát triển, hy vọng (cửa hàng) của chúng đệ mạnh mẽ, ảnh hưởng của anh Trai có khả năng hướng dẫn những cán bộ tình báo chu đáo hơn, từ đó xây dựng lực lượng cho sau này, họ sẽ trở lại Việt Nam bằng khả năng phục vụ tuyệt vời, và các cửa hàng (kinh doanh) trong những năm gần đây, khá tốt, từ đó Ta có nhiều cơ hội giành chiến thắng, đệ xin gửi đến huynh đôi lời chân thành. Cuối thư chữ ký bút danh Hồ Chí Minh".

 

(Công ty) mật ngữ tình báo, trung tâm điều phối tình báo bí mật. (Cửa hàng) những cơ sở tình báo bí mật. (Kinh doanh) nơi nhận và gửi mệnh lệnh của tình báo. Hồ Chí Minh hoạt động gián điệp cũng phải qua những đường dây bí mật trên, tuy nhiên có mật mã riêng theo lệnh khẩn và thông qua kiểm tra bằng mật thư.

 

(9) 2 ‒ Hoàn toàn qui phục dưới chân lý Chủ tịch Mao Trạch Đông. (毛泽东主席的完全投降了真相). Lãnh đạo đảng Cộng sản Hồ Chí Minh ở Đông Dương chưa hẳn vui mừng tháng 8 năm 1945, bởi Trung Quốc đang bất lực viện trợ cho tiền tuyến chống Pháp tại Việt Nam, cũng vì thế Hồ Chí Minh được Trung Quốc khuyến khích rất nhiều về sự chịu đựng chờ viện trợ. Hồ, tranh thủ lấy quyết định thiết lập liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng điện báo, và yêu cầu Trung Quốc viện trợ khẩn cấp, tiếp theo gửi công văn đến Bắc Kinh cho biết vào tháng 9 năm 1949, Dân Thụy giới thiệu Lý Bích Sơn (李碧山), nhập khóa đào tạo cán bộ cao cấp đã biết nói tiếng Trung Hoa thành thạo. Sau đó Lý Bích Sơn (李碧山) hành nghề thương gia đại diện Đảng Cộng sản Đông Dương tại Bắc Kinh, xây dựng một trung tâm viện trợ cho cuộc chiến tranh giải phóng, trung tâm tiếp nhận viện trợ vũ khí, đạn dược và yêu cầu Quân ủy (CPC) viện trợ y tế, tài chính. 


(10) 3 ‒ Tiểu đệ Dân Thụy, hoàn toàn tin tưởng Đại huynh Mao Trạch Đông với tất cả yểm trợ quân sự cho cuộc chiến tranh, dưới sự giáo dục của Đại huynh như tài liệu "Dân chủ cách mạng chiến lược" và "Vấn đề chiến tranh đối với ông Thầy cách mạng" (Mao Trạch Đông). Tiểu đệ đã có một ông "Thầy", nhớ lại ngày đó Tiểu đệ (Hồ) được tuyển chọn đúng lúc và cần thiết cho hành động ngày nay. (毛泽东同志的军事支持, 所有的战争, 如教材(供他"大师" 民主革命战略和战争问题的信任(毛泽东)选择了我(何)及时和必要的).


(11) 4 ‒ Dân Thụy, lập lại 3 phong trào cách mạng vô sản, áp dụng cho Việt Nam bởi kinh nghiệm của Trung Cộng đã thành công, và chúng ta tiến tới dịch thuật lại những văn kiện của phong trào. (重做3运动的经验,我们进行翻译运动的文本).


Mao rất quan tâm đến cuộc chiến Việt Nam, mỗi giai đoạn của chiến dịch đều được hướng dẫn cụ thể. Khẩn cấp gửi trên 10.000 cuốn sách tặng Dân Thụy "Dân chủ cách mạng chiến lược" (民主革命策略) và "Vấn đề chiến tranh du kích" (问题游击战). Chủ yếu phát hành trong giới chính trị viên và quân cán chính cao cấp, sau đó mới đưa vào đại học, trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn v.v...


(12) 5 ‒ Dân Thụy xin phép, Quân ủy Trung ương Trung cộng (CPC) thành lập mặt trận cách mạng Đông Dương buổi đầu liên hệ với chính quyền cũ theo phương thức "nhận vào đồng hóa" như trước đây Trung Cộng đã kiến thiết dân quyền vô sản tại Trung Quốc. Trên nguyên tắc dùng chính sách "bạch gủi" (da trống) làm viền cho nhiều vấn đề cai trị, lấy chính sách Đảng tạo thị uy, cai trị bằng phương thức "da trống" bao phủ xã hội, tuyên truyền chuyên chính vô sản, giáo dục "cải tạo" xã hội, trong ngoài đảng. Lãnh đạo xây dựng quyền lực mạnh, vận dụng phong cách tự phê và kiểm điểm giống như cái kiến (gương) tự xoi thấy mình. [6]


(13) 6 ‒ Được phép liên hệ ngoại giao Quốc tế ngoài Trung Cộng, vấn đề tình báo tại Việt Nam nên thành lập nhiều chương trình phát thanh, hướng dẫn nhân dân nghe theo một hướng cách mạng, phân tích học thuyến Mao chủ tịch, quảng bá phương thức đấu tranh của Quốc tế vô sản, đem tiếng nói của Đảng đến với người bên trong và ngoài đảng. [7]


(14) 7 ‒ Trong mỗi báo cáo ghi chú liên hệ và tăng thời gian đối phó (thời gian liên hệ và ngoại giao với quân Pháp-抑制和时间联系了法国), có thể cấp tốc trên chiến trường nhưng phải có nhiều binh sĩ trải rộng khắp nơi. Về thuyết phục nhân dân VN, chỉ cần khoáy động khủng bố tinh thần, thậm chí dùng đến quyên tắc sức mạnh vũ trang đàn áp. (为了说服听众,只是用创伤,甚至使用暴力的力量).

Trương Ngọc Phượng (张玉凤) thư ký riêng của Mao Trạch Đông. 

Nguồn: Tư liệu Hoa Nam.

Trương Ngọc Phượng (张玉凤) thành viên Hoa Nam, thư ký riêng của Mao Trạch Đông, ghi chú vào sổ trực:

 

- Sau khi Mao Chủ tịch đọc công văn mật mã số 380, liền vẫy tay ra lệnh miệng: Sẵn sàng trả giá: ".. Hỗ trợ anh em Việt Nam, là nhiệm vụ của chúng ta, chúng ta thảo luận lần cuối, sẵn sàng để gửi nhóm cố vấn quân sự sang Việt Nam, giúp chống lại hiểm hoạ quân Pháp và những người dân Việt Nam khó bảo, hãy viện trợ quân sự khẩn cấp vào lúc này, trước mắt đáp ứng chiến trường". Sau khi Mao hồi báo, Hồ Chí Minh rất vui mừng chuyển văn thư đến đa tạ "....Nhận được hỗ trợ của anh lớn (Mao Trạch Đông), tôi vốn đã tự tin".


Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC) nhanh chóng lấy quyết định viện trợ cho HCM dựa trên hướng dẫn của Mao Trạch Đông. Tiếp theo, gửi một phái đoàn cố vấn chiến lược đến Việt Nam để kiềm chế hoạt động của quân Pháp. Trong khi đó Trung Quốc gửi thêm 1.200 quân sĩ pháo binh đầy đủ vũ khí, một lượng súng máy khổng lồ trị giá 90.000 Bản Anh (余发英) và các thiết bị khác, đang bắt đầu vận chuyển đến chiến trường Việt Nam. Những nhóm tư vấn có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và thừa khả năng lý thuyết quân sự và chiến thuật, thành phần cụ thể chia thành 4 nhóm.


Quân đội triển khai một bộ phận tương ứng (bao gồm Sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn) mỗi bộ phận tư vấn có đầy đủ các cố vấn quân sự và cán bộ huấn luyện binh sĩ, cuối tháng 7 năm 1947, nhóm cố vấn quân sự đến Việt Nam, họ đã từng công tác tại Việt Nam, nay chính thức trở lại với nghĩa vụ Quốc tế. Riêng Vi Quốc Thanh (韦 国 清) đã đến Việt Nam nhiều lần với tư cách bí mật, nay làm Trưởng phái đoàn cố vấn quân sự. Mai Gia Sanh (梅 嘉 生), Phó trưởng đoàn tư vấn quân sự, Đặng Dật Phàm (邓逸凡) Phó trưởng đoàn tư vấn chính trị, và Mã Tây Phu (马西夫) lãnh đạo đoàn tư vấn hậu cần. 


Vi Quốc Thanh (韦 国 清) được xem một nhà tư vấn quân sự của Quân ủy Trung ương Việt Nam và lãnh đạo chỉ huy chiến trướng. Cùng lúc Trung Cộng gửi sang Việt Nam những chủ lực mạnh gồm Sư đoàn 304, Sư đoàn 308, và Sư đoàn 312 phản công.


Trước đó Trần Canh (陈赓) đã có mặt tại Việt Nam không thuộc đoàn tư vấn quân sự, nhưng ông được (CPC) bổ nhiệm mệnh toàn quyền, tất cả những đoàn cố vấn hoạt động bí mật đối phó với quân Pháp. Mật mã hiểu nhau giữa đoàn cố vấn và Hồ "Đảng anh em và hàng xóm thân thiện" (向兄弟党和友好邻邦) về sau làm câu chú ngoại giao. Lần đầu tiên trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc nghiêm túc công bố "nghĩa vụ quốc tế cộng sản", giúp họ Hồ trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm cướp chính quyền Việt Nam, ông trở thành trục cách mạng Đông Dương.


Ngoài ra còn có nhóm tư vấn Trung ương, lãnh đạo toàn diện cuộc chiến Đông Dương gồm Mao Trạch Đông (毛泽东), Lưu Thiếu Kỳ (刘少奇) và Chu Đức (朱德), tất cả mệnh lệnh xuất phát từ Trung Nam Hải, hai mệnh lệnh đầu tiên, Dân Thụy nhận được:


- Thứ nhất, Dân Thụy phải giành chiến thắng trong chiến trường tại Việt Nam, trục xuất những kẻ xâm lược Pháp.


- Thứ hai, Dân Thụy xây dựng quân đội Việt Nam, thực hiện xuyên suốt mệnh lệnh của trung ương.


Từ lúc này, Dân Thụy, quan tâm đến những trận chiến đối đầu với quân Pháp, trung tâm mật lệnh (lãnh đạo Trung Quốc) càng tin tưởng trận chiến này, có thể chơi tốt, nhờ viện trợ vật chất dồi dào, điểm thuận lợi trên đất nhà đem đến chiến thắng nhanh.


Thành viên chính trị cục tình báo trung ương (中央情报局的成员政治部主任).


Đại biểu chính trị cục Việt Cộng (代表当地的越南共产党的政治).


Ký tên


Dân Thụy (人瑞)


(Mật danh thứ 220 của Hồ Chí Minh)


Những nơi lưu trữ công văn mã số 380.


- Đại thuận mật mã: 8.10/16. (Quân ủy Trung ương Trung Cộng (CPC). 尊敬的中共中央军事委员会(CPC)


- Trung cổ thâu mật mã: 11.50/16. (Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). 和人民解放军(PLA).

Quân ủy Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc, hồi âm mật mã 380, dạy Dân Thụy rằng:


- Dân Thụy hãy mượn một câu nói cũ của Mao để kết luận: "Một thiên đường xa, Trung Quốc gần" (天堂太远,中国很近).

 

Câu nói này có hai hàm ý mâu thuẫn - Trung Quốc là một trở ngại đến thiên đường; chính Trung Quốc là thiên đường. Đặc biệt trong ẩn hàm của Hồ Chí Minh có chưa đến ba (3) ý nghĩa: "Việt Nam phải chọn đến gần Trung Quốc", "dân tộc Việt Nam có ngày mai thống nhất", và "đất nước Việt Nam phải biết làm thân phận chư hầu tốt". [8]

 

Những hành vi khủng khiếp của Hồ Chí Minh nay đã được thời đại phơi bày. Nhân dân Việt Nam có đủ trí tuệ để nhận chân sự việc, không ai có thể cản trở được một khi dân tộc Việt Nam dùng mọi quyền năng để tìm hiểu và phê phán nhân vật Hồ Chí Minh. Dù cho Hoa Nam có dùng mọi thủ đoạn và mọi kỹ thuật truyên truyền, bọn họ cũng không thể nào biện hộ được cho kẻ bán nước làm tay sai cho Trung Cộng này. Bộ chính Trị đảng Cộng sản cũng đã hết khả năng đưa ra những luận cứ để tiếp tục ngụy biện, vinh danh "Bác" theo khẩu truyền mị dân "Cha già dân tộc", chỉ vì muốn thống trị lâu đời, mượn tên tuổi Hồ Chí Minh để thần thánh hoá, xây dựng những đền đài, thờ phụng khắp nơi. Thời đại ngày nay không còn dành riêng cho đảng Cộng sản. Họ càng biện hộ, nhân dân càng bất mãn chế độ. Nhà nước Cộng sản lộ nguyên hình là kẻ phản động. Vận nước đang nặng trĩu dưới ách đô hộ độc trị nghiệt ngã của đảng Cộng sản Hồ Chí Minh. Ánh sáng hy vọng đã đến, đảng phiên bản tình báo Hoa Nam sẽ không còn che khuất quyền sống làm người của dân tộc Việt Nam. Nhân vật Kagemusha [9] thời đại đã được phơi bày dưới ánh mặt trời.

 

(Còn tiếp kỳ 2)

_________________________________

Ghi chú:

[2] ‒ 胡志明迷惑敌人的(狱中日记)

club.china.com/data/thread/1015/2716/63/75/6_1.html. (1942年8月,胡志明从广西的靖西县去重庆的途中,于德保县足荣圩被桂系乡警扣留,押回靖西.然后自靖西经天保(今天等和德保县),田东,果德(今平 果县),隆安,同正(今扶绥县一部),邕宁,南宁,武鸣,宾阳,迁江(今属来宾),来宾,柳州押往桂林.又自桂林押回柳州第四战区拘留所,前后历时1年. 在狱中胡志明写下汉字诗133首.胡志明故意将封面时间写成1932--1933年,据胡志明说是为了迷惑警方,以下是胡志明的部份狱中日记).

[3]‒ Nguyễn Trọng Hoàn: "Nhật kí trong tù-những giá trị trường tồn"

‒ Phương Thúy/VOV.VN: "Nhật kí trong tù"-Một hồn thơ trong một nhân cách văn hóa -Bằng ngôn ngữ đời thường, nôm na nhưng"Nhật kí trong tù" của Bác Hồ luôn được coi là áng văn mẫu mực..."

‒ NS Huy Thục: "Bác Hồ là vị cứu tinh cho nhạc phẩm của tôi".

‒ Lê Cường: Thơ tiên tri của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một giá trị văn hóa

[4] ‒ Theo học giả Lê Hữu Mục, Ngục Trung Nhật Ký không phải của HCM.

[5]‒ (这一时期,中华人民共和国方面谴责越南当局追随苏联的"霸权主义" 而推行"地区霸权主义", 号召组织世界范围内的"反霸国际统一战线" 与之斗争. 图为当时(人民日报) 对越南的报道). (电阻和战争学院的标志,继续重建军队,加强民间政府成立了社会主义阵线,经济学,政治学,和一个新的文化在毛主席的遗志,用最意味着我们需要源于我们的 转诊制度,以接触的材料和文件).

[6] ‒ (中国中央革命政府挂设置为(皮肤鼓) 为边界问题的公民权利和透明度羁绊,同时指令创建恐吓,领导,改善党的,有实力的自我像蚂蚁一样(镜像)破坏他们的自我).

[7] " (与中国情报分析问题国际接触, "西率全部销售给外界人士收听电台节目").

[8] (有一句话:天堂太远,中国很近.这有着互相矛盾的两层意思-中国是通向天堂的拦路虎;中国本身就是天堂.对于这两层意思.越南人选择同样相信).

[9] ‒ Kagemusha (Ảnh Vũ Giả-影武者) là một phim dã sử Nhật của nhà đạo diễn Akira Kurosawa kể chuyện một tên trộm được cải trang đưa lên làm lãnh chúa để đánh lừa thiên hạ.

[10]‒ Người viết bài này tặng đảng Cộng Sản và kính biếu nhân dân Việt Nam. Nguyên bản "Nhật ký trong tù" (狱中日记) vô chủ, Công văn mã số 380 (năm Thìn), và những hình ảnh của "Bác" chưa công bố.

Friday, June 13, 2014

Phạm Chí Dũng : Việt - Mỹ lộ dần những tín hiệu mới

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel và người đồng nhiệm Việt Nam Phùng Quang Thanh tại Diễn đàn An ninh khu vực ở Shangri-la, Singapore ngày 31/05/2014.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel và người đồng nhiệm Việt Nam Phùng Quang Thanh tại Diễn đàn An ninh khu vực ở Shangri-la, Singapore ngày 31/05/2014.

REUTERS/Pablo Martinez Monsivais/Pool

Thụy My
Thời gian gần đây, đã có những chuyển động mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, trong các lãnh vực từ giáo dục, quân sự đến ngoại giao. Trong hoàn cảnh bị Bắc Kinh ức hiếp mọi bề, đặc biệt là tình hình Biển Đông luôn căng thẳng, phải chăng khuynh hướng ngả dần về phương Tây đang trở thành một xu thế không cưỡng lại được để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay ? Dư luận đang sốt ruột chờ đợi, vì có lẽ không còn nhiều thời gian cho các nhà lãnh đạo Việt Nam.

RFI Việt ngữ đã phỏng vấn nhà bình luận Phạm Chí Dũng về vấn đề này.



Nhà bình luận Phạm Chí Dũng - Saigon
 
13/06/2014

by Thụy My
 
 

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã dành cho RFI Việt ngữ cuộc phỏng vấn hôm nay. Thưa anh, chính phủ Việt Nam vừa chấp thuận chủ trương cho thành lập trường đại học Fulbright của Hoa Kỳ. Theo anh đây có phải là một tín hiệu đáng quan tâm trong mối quan hệ Việt - Mỹ?

Vấn đề đại học Fulbright tuy chỉ là một việc nhỏ trong nghị trình làm việc giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ, nhưng nếu chúng ta gắn kết sự việc này với những tín hiệu và chuyển động khác thì có thể thấy một “quyết tâm” nào đó, đang manh nha hình thành từ một nhóm chính khách nào đó trong đảng, nhằm thúc đẩy tiến trình giao hảo nhanh hơn đôi chút.

Vào năm 2013, ngau sau chuyến thăm Washington của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ý tưởng lập đại học Fulbright đã bắt đầu được nêu ra. Đây là đại học phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam. Tuy nhiên rất có thể là khi đó quan hệ Việt - Mỹ mới chỉ tái khởi động nên tiến trình xây dựng đại học này vẫn khá chậm, và tính đến nay đã mất gần một năm.

Tuy nhiên tôi vẫn nhận ra một điểm khá đặc biệt: trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình các đại học và cao đẳng ở Việt Nam đã lạm phát đến 400 trường và do đó từ năm 2013 Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương không cho thành lập mới đại học, cả công lập lẫn tư thục, việc xuất hiện chủ trương “đặc cách” cho thành lập đại học Fulbright chính là một dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam đang muốn chứng tỏ đôi chút thiện chí với Hoa Kỳ, đặc biệt trong bối cảnh nguy cơ đe dọa Việt Nam từ Trung Quốc là quá lớn.

RFI : Anh vừa đề cập đến những chuyển động mang tính tín hiệu khác. Đó là tín hiệu nào vậy thưa anh ?

Chính xác là những tín hiệu được chủ động phát ra từ giới quân sự Hoa Kỳ.

Chúng ta có thể nhận ra là không phải vô cớ mà chỉ hai tuần sau khi xảy ra vụ việc giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 và do sức ép liên tục từ Bắc Kinh đối với Hà Nội, Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương - ông Locklear - đã bắn tiếng trên hãng tin Reuteurs về khả năng Mỹ và Việt Nam có thể hình thành “đối tác chiến lược”. Thành thật mà nói, trong tình cảnh nguy nan như hiện nay, một đối tác chiến lược đủ mạnh là một mơ ước của giới chính khách yếu đuối Hà Nội.

Vào năm trước, thỏa thuận chung Việt - Mỹ tuy bao hàm khá nhiều nội dung mang tính “toàn diện”, nhưng cần chú ý là mức độ hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam mới chỉ dừng lại ở cấp độ “đối tác toàn diện” chứ không đề cập gì đến khả năng “đối tác chiến lược”. Nhưng một khi chính người Mỹ chủ động bắn tín hiệu về triển vọng đối tác chiến lược thì có thể hiểu điều đó bao gồm cả yếu tố an ninh và quốc phòng. Đặc biệt là quốc phòng - chính là điều mà nhà cầm quyền Việt Nam và Bộ Quốc phòng quốc gia này đặc biệt trông dựa vào.

Vậy là một lần nữa, lại một lần nữa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ diễn ra “giao lưu hải quân” ở Đà Nẵng. Vào tháng 4/2013, cuộc giao lưu này diễn ra một cách khiêm tốn chỉ với ba tàu hải quân của Mỹ “đến chơi”. Còn lần này, có vẻ không khí chộn rộn hơn, thậm chí Hải quân Mỹ còn giao lưu với cả sinh viên Việt Nam và được báo chí cấp tiến của Việt Nam dành cho những lời lẽ khá nồng nhiệt.

Chỉ có thể xây dựng một quan hệ chiến lược về quốc phòng với Mỹ, người Việt Nam mới nhận được sự hỗ trợ đủ mạnh để đối phó với tham vọng khống chế Biển Đông và cả đất liền của Trung Quốc. Bằng chứng sống động và gần gũi nhất là mới vào cuối tháng 4/2014 ngay trong chuyến công du của Tổng thống Barack Obama đến Philippines, hai quốc gia này đã ký kết với nhau một bản hiệp ước về tương trợ quốc phòng.

Ngay lập tức, những động tác “ném đá dò đường” của Trung Quốc đối với các đảo nhỏ của Philippines lắng hẳn đi, còn Manila tuyên bố không ngần ngại tiếp tục chương trình kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, và trong thực tế họ đã bắt giữ tất cả những tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng lãnh hải Philippines.

Chúng ta cũng thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam lại chọn Manila - nơi diễn ra một diễn đàn kinh tế về hình thức - để lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ thủ tướng, ông đủ cam đảm đưa ra nhận xét về “hữu nghị viển vông” đối với Trung Quốc. Đó là bằng chứng gần nhất và sáng nhất cho thấy Thủ tướng Dũng không còn đường lùi. Đường tiến duy nhất của ông ta hiện nay và trong ít ra vài năm tới chỉ còn là tình hữu nghị không hề viển vông từ phía chính phủ Hoa Kỳ.

RFI : Sau sự bắn tiếng của Tư lệnh Locklear, đến lượt Tổng thống Obama lên tiếng. Đây có phải là tín hiệu không hề viển vông không thưa anh ?

Đó là tín hiệu tốt lành, nhất là trong bối cảnh quá nhạy cảm hiện thời. Nếu Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên lên tiếng “thoát Trung” trong hai nhiệm kỳ thủ tướng của ông, thì Obama cũng lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ tổng thống nói thẳng về khả năng Mỹ có thể đưa quân đến biển Đông. Điều quân để làm gì? Tất nhiên để bảo vệ sự an toàn của công dân Mỹ ở ngoài biên giới Mỹ. Nhưng người Mỹ còn thòng thêm một câu vốn là truyền thống của họ: bảo vệ các đồng minh của Mỹ. Như vậy ai là đồng minh của Mỹ?

Chúng ta đã thấy bài học của Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia đã cộng tác quân sự với Mỹ từ hơn ba chục năm qua. Còn Philippines cũng là một đồng minh quân sự và được Mỹ bảo vệ cho đến giờ này. Tất cả những quốc gia ấy có bị Trung Quốc hiếp đáp như đối với Việt Nam không? Câu trả lời là không hoặc rất ít. Âu đó cũng là một bài học phản tỉnh cho Nhà nước Việt Nam khi họ chọn quan hệ đu dây mà chẳng đi tới đâu, thậm chí còn bị lật ngửa như mới đây.

RFI : Có phải vì không đi tới đâu trong mối quan hệ đu dây mà Hà Nội đã quyết định để Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đi Mỹ ?

Đây lại là tín hiệu phản hồi, xuất hiện từ phía Việt Nam. Hầu như ngay sau khi Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương Locklear lên tiếng về triển vọng “đối tác chiến lược”, một cuộc điện đàm trực tiếp đã diễn ra giữa ông Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.

Tất nhiên người ta có thể hiểu đó là cuộc điện đàm do ông Minh chủ động đề xuất. Nhưng khác hẳn với lời đề xuất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh “đàm phán” mà đã bị Tập Cận Bình thẳng thừng từ chối, theo một tiết lộ của báo The New York Times, ông Phạm Bình Minh đã lập tức nhận được lời mời “thăm Hoa Kỳ” của ông Kerry. Sự việc này lại diễn ra ngay sau lời tuyên bố có vẻ hơi can đảm của ông Nguyễn Tấn Dũng ở Manila về thực chất mối quan hệ Việt - Trung.

Người ta cho rằng rất có thể nhóm chính khách ưu tiên chọn lá bài phương Tây đã quyết định phải hành động, phải tiến một bước đủ dài và đủ mạnh để thoát khỏi cái bóng nặng nề vẫn kềm tỏa họ từ lâu nay. Mà muốn như vậy thì chỉ còn cách đi Washington chứ không thể cứ mãi ngồi họp ở Văn phòng trung ương đảng được.

RFI : Nhưng cho tới nay, ông Phạm Bình Minh vẫn chưa đi Mỹ, cũng chưa có lịch trình công du Hoa Kỳ nào được công bố ?

Đây là một bí ẩn. Trước đây có thông tin là ông Phạm Bình Minh đã “xếp hành lý vào va-li” và chỉ còn chờ lên đường ra sân bay Nội Bài. Thế nhưng việc cho tới giờ vẫn bặt tăm hơi chuyến đi Mỹ của ông lại cho thấy một điều gì đó không được ổn lắm. Giới quan sát bình luận rằng có khả năng ông Minh không nhận được sự đồng thuận từ một số ủy viên nào đó trong Bộ Chính trị, cho dù thủ trưởng trực tiếp của ông Minh là ông Nguyễn Tấn Dũng có thể còn sẵn sàng đi xa hơn cả nước Mỹ.

RFI : Thủ tướng Việt Nam còn có thể đi xa đến đâu, theo anh ?

Đến đại hội 12 của đảng vào năm 2016, vì ngay trước mắt có vẻ đại hội này còn quan trọng hơn cả TPP và vấn đề đối tác chiến lược với Mỹ. Nhưng muốn tiến đến đại hội 12 với vị thế một ứng cử viên nặng ký cho chức vụ cao nhất trong đảng, ông Dũng lại phải được lòng dân chứ không chỉ được lòng đa số các ủy viên trung ương. Tôi cho rằng ông Dũng đang phải ngày càng lập trình về yếu tố lòng dân.

Vào thời nhà Hồ bị quân Minh đe dọa, khi Hồ Quý Ly ước ao “có được trăm vạn quân để chống giặc Minh”, con trai Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng đã trả lời cha “quân không thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo”. Quả báo đã đến với nhà Hồ khi dân chúng, vốn trước đó bị triều đình đàn áp tàn bạo, đã không còn thiết tha gì với vận mệnh xã tắc. Khi gần một trăm vạn quân Minh tràn vào nước Nam, nhà Hồ chỉ cầm cự được hơn 6 tháng thì thảm bại. Đất nước bị nô thuộc, còn cha con Hồ Quý Ly bị bắt đưa thẳng về Trung Quốc.

Bây giờ cũng tương tự vậy thôi. Nếu một cuộc chiến tranh được kích động từ Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liệu có thể dựa vào 3/4 trong số gần 200 ủy viên trung ương đảng để chiến đấu, hay ông ta phải dựa vào 90 triệu dân chúng? Có lẽ đó là lý do để ông Dũng trở thành người duy nhất trong bộ tứ triều đình đưa ra một vài tuyên bố có vẻ cứng rắn đối với Bắc Kinh. Và đó cũng là lý do để ông thấy rằng nếu không biết khoan sức dân thì đến một ngày nào đó sẽ chẳng còn ai đi biểu tình chống Trung Quốc hay chiến đấu với Trung Quốc.

RFI : Điều anh vừa nói có phải là lý do để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mặc dù đã gật đầu với việc cấm và đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc vào ngày 18/05/2014, nhưng lại chủ động đề nghị Quốc hội đưa Luật Biểu tình vào chương trình luật năm 2015, thay vì để đến năm 2020 như dự kiến cách đây có vài tháng ?

Chính xác là như vậy. Một sự thay đổi đột ngột đến mức khó tin từ phía ông Dũng. Mới vào đầu năm 2014, Chính phủ đã dự kiến sẽ chỉ ban hành Luật Biểu tình sau năm 2016, và theo lộ trình là phải đến năm 2020 mới ra được luật này. Trước đó vào năm 2011 khi Trung Quốc cắt cáp tàu Việt Nam cũng như gây ra hàng loạt thương vong cho ngư dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đăng đàn trước Quốc hội và trở thành người đầu tiên trong Bộ Chính trị yêu cầu cần có luật biểu tình. Thế nhưng từ đó đến nay tất cả vẫn im hơi lặng tiếng, dự thảo Luật Biểu tình được giao cho Bộ Công an soạn thảo nhưng tới giờ vẫn chẳng thấy bóng dáng đâu. Còn ông Dũng có vẻ chẳng còn giữ được “quyết tâm” của ông về ban hành luật này.

Tất cả hầu như là một sự bất nhất đến khó mà cảm thông và còn như sỉ nhục đối với quốc dân đồng bào. Ngay vào kỳ họp Quốc hội tháng 11/2013 khi thông qua Hiến pháp mới, Luật Biểu tình đã không hề được đả động. Nhưng đến tháng cuối của năm 2013, ông Phan Trung Lý - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội - lại bất ngờ thông báo là Quốc hội có thể sẽ ban hành Luật Lập hội và Luật Biểu tình « trong thời gian tới ». Thời gian tới là khi nào thì chẳng ai làm rõ. Hay theo cái cách của Hiến pháp năm 1992, đến nay đã hơn hai chục năm mà vẫn chẳng một ai luật hóa các quyền tự do lập hội và tự do biểu tình?

Nhưng bây giờ thì đúng là “gặp thời thế, thế thời phải thế” - như cụ Ngô Thời Nhậm đã phán. Đến như một ông nghị có truyền thống “phản biểu tình” như Hoàng Hữu Phước mà cũng thay đổi quan điểm chuyển sang ủng hộ Luật Biểu tình chỉ sau một đêm, thì chúng ta có thể thấy thời vận đang thay đổi nhanh thế nào. Khi báo chí trong nước hỏi lý do vì sao ông Phước lại thay đổi quan điểm đột ngột như vậy, ông ta lập tức trả lời rằng đó chỉ là cách hiểu khác nhau về ngôn từ.

Hẳn là tình thế đã trở nên bức bách đến mức mà một đại biểu Quốc hội “kiên cường” như Hoàng Hữu Phước mới phải thay đổi, còn những tờ báo kiên định nhất của đảng cũng mới bắt đầu hé lộ ý tưởng “chấp nhận các khuyến nghị UPR”. Tôi cho rằng đây cũng là một tín hiệu mới. Nếu vào cuộc UPR (kiểm điểm định kỳ phổ quát) vào tháng 2/2014 ở Thụy Sĩ, phái đoàn Hà Nội còn hùng hồn tuyên bố Việt Nam đã thực hiện đến hơn 80% khuyến nghị của các quốc gia trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, thì nay giọng điệu của Bộ Ngoại giao có vẻ đã đổi khác. Âu đó cũng là một sự cách điệu về ngôn từ.

RFI : Với những tín hiệu cách điệu đó, anh có hy vọng câu chuyện dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam sẽ được cải thiện hơn trong thời gian tới?

Vấn đề này lại phụ thuộc vào một tín hiệu khác là Đối thoại Nhân quyền Việt - Mỹ mới diễn ra ở Washington vào giữa tháng 5/2014.

Cuộc gặp mặt giữa hai quốc gia cựu thù vào năm nay được dẫn dắt bởi một gương mặt không kém mẫn cảm so với trưởng phái đoàn Hoa Kỳ năm ngoái là Tom Malinowski, phụ trách về dân chủ và nhân quyền và lao động - những lĩnh vực mà Hà Nội không thú vị chút nào.

Điểm đáng ghi nhận đầu tiên chính là sự có mặt trực tiếp của chính Tom Malinowski sau cuộc đối thoại vừa qua, trong khi sau cuộc đối thoại năm ngoái đã không hề xuất hiện Dan Baer - trưởng đoàn Mỹ. Cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ năm 2013 cũng chỉ là bắt đầu cho mối quan hệ được tái lập sau thời gian bị bỏ ngỏ, và vào thời điểm đó các viên chức Mỹ có vẻ không hề hài lòng trước sự trì hoãn cố tật của phía Việt Nam. Dan Baer còn không được gặp gỡ một số nhân vật bất đồng chính kiến mà ông đề nghị đến thăm.

Nhưng vào năm nay thì khác hẳn. Tháng 3/2014, bà Wendy Sherman Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách về chính trị còn được gặp Hội Anh em Dân chủ - một tổ chức dân sự độc lập ngay tại Hà Nội. Vào ngày 20/5/2014, Phái đoàn Liên minh châu Âu cũng lần đầu tiên tổ chức được một cuộc hội thảo với một số hội đoàn dân sự độc lập của Việt Nam ngay tại Hà Nội, tạo nên một sự kiện chưa từng có đối với xã hội dân sự ở đất nước này.

Còn sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ vừa qua, Tom Malinowski nhận định: “Sở dĩ có hy vọng cao rằng Đối thoại Nhân quyền năm nay đạt tiến bộ, xuất phát từ đối thoại TPP. Cho nên, cuộc Đối thoại Nhân quyền là cách mà qua đó chúng tôi có thể thảo luận chính xác các bước nào Việt Nam cần thiết phải thực hiện để có thể trở thành thành viên của TPP trong năm nay”.

Thực ra chúng ta có thể chuẩn bị nâng ly chúc mừng Nhà nước Việt Nam. Lần gặp gỡ của Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Penny Pritzker với ông Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội vào đầu tháng 6/2014 - một tháng sau Đối thoại Nhân quyền - đã phác ra một bức tranh không đến nỗi quá xấu xí: TPP có cơ hội được kết thúc vào cuối năm nay, và do đó người Việt cũng có thể tạm gột rửa vết dơ Trung Quốc trên mặt mình.

Thậm chí Tom Malinowski còn cho rằng “Việt Nam có cơ hội, một cơ hội thật sự”. Quả thực, nửa cuối năm nay có vẻ là cơ hội gần cuối cho giới đàm phán Hà Nội, vì nếu đến năm sau khi tất cả các ứng cử viên Hoa Kỳ đều phải tất bật vì chuyện vận động tranh cử, sẽ chẳng còn mấy ai tha thiết vận động cho Việt Nam vào TPP nữa.

Tom Malinowski còn nêu ra một ví von ẩn dụ rất tượng hình: “Giống như một bình nước sôi, sẽ tốt hơn nhiều nếu ta mở nắp để hơi nóng thoát ra thay vì cố gắng đậy lại để rốt cuộc dẫn tới một sự bùng nổ lớn hơn”. Chúng ta nên đặc biệt để ý đến câu nói này. Ví von này mang một phong cách mà chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh tự tin của giới chính trị gia phương Tây.

Biểu đạt cảm hứng này cũng gián tiếp cho thấy chưa bao giờ từ năm 1945 đến nay, dân tộc Việt Nam phải chứng kiến một Nhà nước Việt Nam cô đơn và chia rẽ đến thế, bất chấp phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và hàng chục đối tác chiến lược toàn diện mà nhà nước này đã “dày công vun đắp” suốt hàng chục năm qua. Họ cô đơn trước quốc tế và cô độc trước cả dân chúng của họ.

Với quốc tế và với đa số trong giới nghị sĩ Mỹ, sẽ không thể có TPP cho Việt Nam nếu không có nhân quyền. Và với 153 nghị sĩ chiếm đến 2/3 đảng Dân chủ vừa nêu ra một thư yêu cầu đối với Đại diện thương mại Mỹ, sẽ không thể có TPP nếu Việt Nam không chấp nhận thành lập công đoàn độc lập cho 5 triệu công nhân. Những người cầm quyền Việt Nam không thể cứ đẩy người dân vào nỗi cô độc vô cùng tận để trám chỗ cho nỗi cô đơn chưa biết làm cách nào giải tỏa của chính thể.

RFI : Lần đầu tiên trong các cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ, trưởng đoàn Hoa Kỳ nhắc tới từ “quân sự” nhằm khẳng định quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến sâu hơn nữa khi Hà Nội cải thiện nhân quyền. Làm cách nào và ai sẽ xử lý cuộc “khủng hoảng Việt Nam” lần này?

Không ai có thể làm thay cho Nhà nước Việt Nam. Nếu một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như Phùng Quang Thanh đã gây phản cảm nặng nề nơi công luận, bởi biểu hiện buồn thảm và sợ sệt đến thế của viên đại tướng này trong những lời ve vuốt “nước bạn” tại Diễn đàn Shangri-la, làm sao chính thể cầm quyền ở Việt Nam có hy vọng gì dùng quân đội để đối đầu với một lực lượng quân sự đông gấp 3-4 lần của Trung Quốc, nếu một cuộc chiến tranh mang tên “Mười sáu chữ vàng” xảy ra?

Tôi xin nhắc lại câu lời tự sự của Trưởng đoàn đàm phán đối thoại nhân quyền Mỹ: “Liệu nhà nước Việt Nam có thực hiện những bước cần thiết để nắm bắt cơ hội hay không là câu hỏi mà tôi không thể trả lời thay họ được”, và “Chúng ta phải chờ xem bởi vì sự trắc nghiệm không nằm ở chất lượng cuộc đối thoại mà ở các bước sẽ diễn ra trong những ngày sắp tới”. Trong hoàn cảnh nguy cơ từ Trung Quốc ngày càng cận kề, nếu nhà nước và giới quân sự Việt Nam không hành động nhanh chóng, quyết đoán với đôi chút thành tâm, họ sẽ mất đi chút ít cơ hội còn lại và rơi vào lịch sử của nhà Hồ mất nước.

Tuy nhiên với tín hiệu từ cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ vào tháng 5/2014, tôi có thể hy vọng rằng những ngày sắp tới, hay chính xác là những tháng sắp tới sẽ có được một số chuyển biến. Tôi có cảm giác rằng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại vừa đạt được một thỏa thuận không chính thức nào đó, theo đó sắp tới sẽ có thêm một đợt thả tù nhân lương tâm, tiếp theo đợt thả tù chính trị trong hai tháng Ba và Tư năm nay.

Xu hướng ngả dần về phương Tây cũng dần phải trở thành một xu thế không cưỡng lại được, bất chấp một lực lượng nhân sự “thân Trung” nào đó vẫn có thể tìm cách phá bĩnh. Tiến độ này sẽ cho thấy xu thế hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ được nâng dần về cấp độ, và không loại trừ sự có mặt dày hơn và có ý nghĩa răn đe hơn của Hạm đội 7 ở Biển Đông trong thời gian tới.

Nhưng muốn có được những kết quả đó, nội bộ Việt Nam phải có một đột biến về nhân tố khởi phát cho chuyển động. Nhiều người đang nhìn vào ông Nguyễn Tấn Dũng như một nhân tố có thể xử lý “khủng hoảng Việt Nam”. Thế nhưng cũng nhiều người không kém lại cho rằng ông Dũng chỉ là vị lãnh đạo viển vông khi nêu ra tính từ “viển vông” đối với Trung Quốc, trong khi thực chất ông ta sẽ chẳng làm gì hết.

Nhưng làm gì thì làm và nói gì thì nói, thật ra thời gian chẳng còn nhiều cho bất kỳ chính khách nào. Đã đến lúc cần xác định rằng đã qua thời kỳ “Lũ chúng ta nằm trong giường chiếu hẹp” mà phải thật sự tiến ra đường phố với một lòng thành tâm tối thiểu, cùng một quyết tâm không nhìn về phía sau. Chỉ có thế mới đảm bảo tương lai chính trị cho các chính khách Việt Nam và cũng là phần nào cứu nguy cho cái dân tộc Việt quá nhiều đắng cay này.

Còn nếu giới chính trị cứ bùng nhùng như hiện nay thì tương lai của họ chắc chắn sẽ là “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.

RFI : Chúng tôi xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ về vấn đề những tín hiệu mới trong quan hệ Việt-Mỹ.

Thursday, June 12, 2014

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền VN

 

Mặc dù Mỹ tuyên bố giữ quan điểm trung lập trong các tranh chấp lãnh thổ, song Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel hôm qua cũng đã phát biểu rằng Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa từ lâu và Trung Quốc cần phải rút giàn khoan Hải Dương 981 cùng các tàu hộ tống về.

 

Theo Tạp chí Xã Hội Học - 11:08 11/06/2014

 

Trong cuộc họp báo qua điện thoại từ Yangon (Myanmar) vào hôm qua (10/6), Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Russel đã nêu lên hàng loạt các quan ngại của Mỹ đối với căng thẳng xung quanh giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) cũng như việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa để khẳng định cái gọi là chủ quyền trên phần lớn biển Đông.

 

Mặc dù Mỹ không đứng về phía nào trong tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, ông Russel lưu ý rằng Việt Nam từ lâu đã tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Hơn nữa, Việt Nam lâu nay đã thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực mà Việt Nam chính thức tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế tính từ đất liền.

 

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Russel 

 

Trong cuộc gặp với các quan chức cấp cao Việt Nam và Trung Quốc bên lề hội nghị ARF ở Myanmar, ông Russel đều nhấn mạnh sự cần thiết phải xuống thang tình hình ở Hoàng Sa, hai bên cần kiềm chế trong hoạt động của các tàu thuyền.

 

“Các nước tham gia tranh chấp tại biển Đông cần bảo đảm hành vi của mình không mang tính khiêu khích… Đó là cơ sở để hạ nhiệt căng thẳng trên biển Đông”, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ nói.

 

Bình luận cụ thể về tình hình gia tăng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc quanh khu vực giàn khoan Hải Dương-981, ngoài việc nhấn mạnh các bên cần thể hiện như tinh thần hợp tác, tự kiềm chế và bảo đảm an toàn cho ngư dân cũng như tàu bè, ông Russel nhận định yếu tố quan trọng để hạ nhiệt là “Trung Quốc phải rút giàn khoan”.

 

"Khuyến nghị của tôi là Trung Quốc nên rút giàn khoan ra khỏi Biển Đông, cả Trung Quốc và Việt Nam nên rút tất cả tàu về. Cách làm đó sẽ giúp tạo nên hòa bình cho quá trình ngoại giao, giải quyết căng thẳng", ông Russel nói.

 

Đối với các hoạt động xây dựng cải tạo mà Trung Quốc bị nghi đang tiến hành ở Biển Đông hiện nay, ông Russel bình luận rằng việc xây dựng quy mô lớn đó vi phạm nguyên tắc giữ nguyên hiện trạng mà Trung Quốc và ASEAN cam kết trong Tuyên bố ứng xử của các bên năm 2002 (DOC). Trong đó các bên tự cam kết không chiếm đóng những thực thể không có người ở.

 

Theo ông Daniel Russel, Trung Quốc nên rút đoàn tàu hộ tống về để tránh làm căng thẳng thêm tình hình

 

Tại cuộc họp ARF, ông Russel nói các bên có cơ hội ngồi vào bàn để lắng nghe từ Trung Quốc, Việt Nam và cả Philippines. Đại diện các nước đều bày tỏ mong muốn có giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, cần có cách cư xử có trách nhiệm trong khu vực. Ông Russel nói Mỹ khuyến khích các nước liên quan ở Biển Đông phát huy các phương cách ngoại giao để giải quyết khác biệt.

 

Ông Russel cũng nhắc đến việc Tòa trọng tài thường trực có trụ sở tại The Hague (Hà Lan) vừa yêu cầu Trung Quốc trong vòng 6 tháng phải trả lời đơn kiện của Philippines liên quan đến yêu sách "đường lưỡi bò" của Bắc Kinh trên biển Đông.

 

“Đây là cơ hội quan trọng để Trung Quốc gỡ bỏ những mập mờ liên quan đến tuyên bố chủ quyền dựa trên đường 9 đoạn của mình. Chính những tuyên bố chủ quyền trên cơ sở này đang không ngừng làm gia tăng căng thẳng và bất an trong khu vực”, ông Russel nói.

 

Ông Russel khẳng định chính sách “tái cân bằng” của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương mang lại lợi ích cho các nước trong khu vực, kể cả Trung Quốc. Quan điểm này đã được Tổng thống Barack Obama truyền đạt trong bài phát biểu về chính sách ngoại giao tại trường võ bị West Point (New York) ngày 28/5.

 

“Nếu chúng ta không có phản ứng thích hợp thì những hành động hung hăng tại các khu vực, ở nam Ukraine, biển Đông hay bất cứ nơi nào khác sẽ ảnh hưởng đến đồng minh của chúng ta và khiến quân đội phải vào cuộc”, ông Obama đã nói.

Theo Yên Yên

Monday, June 9, 2014

Kamikaze - Huyền Thoại Về Các Cảm Tử Quân Nhật Bản


kamikazegroup.jpg

Đứng bên cạnh hình ảnh các Samurai hiên ngang bất khuất là những cảm tử quân ít người biết đến: Kamikaze (Kami = god; kaze = wind ; Kamikaze = Thần Phong).

Thần phong, gió thần hay Kamikaze (tiếng Nhật: 神風; kami = thần, kaze = phong) là một từ tiếng Nhật, được những tiếng khác vay mượn để chỉ các cuộc tấn công cảm tử bởi các phi công chiến đấu Nhật Bản chống lại tàu chiến của các nước Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai trong giai đoạn kết thúc Chiến dịch Thái Bình Dương.
Phi công Kamikaze sẽ lái máy bay của mình, thường là chở đầy thuốc nổ, bom, thủy lôi và bình đựng xăng đâm vào tàu địch. Máy bay của anh như vậy có vai trò hỏa tiễn sống trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tăng tối đa độ chính xác và tổn thất cho địch quân so với bom đạn thông thường. Mục tiêu của các phi công này là đánh phá càng nhiều càng tốt tàu bè của phe Đồng Minh.
Các cuộc tấn công này bắt đầu từ tháng 10 năm 1944, sau một số trận thua nặng nề của Nhật Bản. Việc tiềm lực chiến tranh giảm sút– cùng với việc mất đi rất nhiều phi công giỏi giàu kinh nghiệm–sản xuất công nghiệp suy yếu đi so với Hoa Kỳ, cũng như việc chính phủ Nhật Bản không muốn đầu hàng, dẫn đến chiến thuật sử dụng kamikaze khi lực lượng Đồng Minh tiến đánh Quần đảo Nhật Bản.
Các cuộc tấn công cảm tử Kamikaze là các cuộc tấn công nổi tiếng nhất và được biết đến nhiều nhất, giống như các cuộc "xung phong banzai" bởi bộ binh Nhật. Ngoài ra, người Nhật còn có các đội tấn công cảm tử khác như tàu ngầm Kairyu, thủy lôi sống Kaiten, khinh tốc đỉnh Shinyo.

Kamikaze.jpg


Trong những năm đầu của thập niên 1940 khi hạm đội Mỹ khống chế Thái Bình Dương, những cuộc *ng độ giữa hải quân Nhật-Mỹ liên tục diễn ra, đặc biệt là sau trận Trân Châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 với thắng lợi thường thuộc về người Mỹ vì Mỹ có ưu thế lớn về hải quân và không quân. Những thất bại đó mà đỉnh điểm là trận Hải chiến biển Philippines đã khiến quân Nhật nghĩ đến những phương sách khác, trong bối cảnh đó bộ tham mưu Nhật đã nghĩ đến những cuộc tấn công cảm tử để tái lập thế quân bình lực lượng. Người đầu tiên đưa ra ý tưởng này là chỉ huy trưởng căn cứ Nhật Tateyama tuy không được chấp thuận nhưng ý kiến này đã được bảo lưu và nghiên cứu.
Hồi đầu chiến dịch Thái Bình Dương trong Đại chiến thế giới thứ 2 của Nhật, Onishi là Trưởng phòng phát triển không quân của Hải quân Nhật, và là người chịu một số trách nhiệm về kỹ thuật trong đợt tấn công của quân Nhật vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), dưới sự lãnh đạo của thống đốc hải quân Isoroku Yamamoto. Bản thân Onishi đã từng phản đối cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng, khiến cho Mỹ sau đó tuyên chiến với Nhật và dẫn đến một cuộc chiến đẫm máu, và cuối cùng Nhật đã phải đầu hàng không điều kiện.

kamikaze-1.jpg


Vào tháng 10/1944, Onishi được thăng chức thành tư lệnh Chiến hạm Không quân ở phía bắc Philippines. Onishi đã nghiên cứu các phương pháp đánh cảm tử vào những tàu chiến của quân Mỹ và Đồng minh, phương pháp mà hồi đầu Onishi đã từng phản đối. Sau khi bị mất dãy đảo Mariana, Onishi thay đổi ý kiến và ra lệnh tấn công bằng máy bay chứa đầy bom. Kế hoạch là khoảng 250 kg bom được đưa lên máy bay Misubishi A6M Zero và đâm thẳng vào tàu chiến địch.
Trong buổi gặp mặt ở sân bay Magracut gần Manila , Philippines vào ngày 19/10, Onishi đến thăm đội bay 201 đã cho rằng: "Tôi nghĩ chúng ta sẽ không còn phương pháp nào giữ được Philippines , bằng cách cho 250 kg bom lên chiếc Zero và đâm thẳng xuống tàu chiến Mỹ". Từ đó những cuộc tấn công theo kiểu Kazmikaze này liên tiếp được tiến hành, nhưng không phải mọi máy bay đều đâm trúng đích. Nhiều chiếc đã bị bắn rơi trước khi kịp đâm trúng mục tiêu.
Bộ tư lệnh tối cao Nhật lúc đó đã tin tuởng vào hiệu quả đặc biệt của chiến thuật 'bom nguời' và Nhật Hoàng Hiro Hito đọc diễn văn ca ngợi những chàng trai trẻ tuổi đôi mươi đã ra đi 'chết hạnh phúc và tự hào vì hoàng đế và sự chiến thắng'. Số người tự nguyện hi sinh nhiều gấp 10 lần số máy bay mà quân đội Thiên hoàng có.Theo nhà nghiên cứu Maurice Pinguet,những phi công đó biết rằng sớm hay muộn gì họ cũng sẽ hi sinh trong một cuộc chiến không cân sức nên họ đã chọn một cái chết nhanh chóng và có ích hơn.Họ không được hứa hẹn một sự đền đáp nào,một thiên đường nào kể cả niềm tự hào chiến thắng.Trong số những người tình nguyện,có cả những sinh viên;họ được huấn luyện trong một * đặc biệt trong 7 ngày; 2 ngày cho việc cất cánh với một quả bom 250kg; 2 ngày cho việc bay theo đội hình và 3 ngày cho việc tiếp cận mục tiêu và tấn công. Phần lớn các kamikze đêu là những thanh niên ưu tú của Nhật Bản ở độ tuổi 20,họ là sinh viên của những trường Đại Học Nhật Bản ,phần lớn họ theo học các ngành kỹ thuật . Chính họ đã tự đăng ký đẻ được trở thành các Kamikze-hi sinh cho Tổ Quốc .Tinh thần Samurai đã thấm nhuần vào dòng máu nhưng người con Nhật Bản và danh sách đăng ký ngày càng tăng cao.
Và vào một buổi chiều, nguời chỉ huy truởng căn cứ báo cho họ biết lệnh xuất phát vào sáng hôm sau. Họ chỉ còn có một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho cha mẹ.  Sáng sớm, sau buổi thuyết trình thuờng lệ , họ có mặt trong những bộ đồ bay, bên sườn lủng lẳng thanh trường kiếm của nguời hiệp sĩ samurai , đầu quấn chiếc băng chéo thêu nổi hình mặt trời mọc . Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi nguời một cốc rượu sake ; tất cả nghiêng mình về hướng cung điện của Nhật hoàng truớc khi chạy bổ nhào đến máy bay truớc sự hoan hô nồng nhiệt của các đồng đội còn ở lại . Theo truyền thuyết, những phi công trẻ trong các sứ mệnh tự sát kamikaze sau khi cất cánh thường bay về hướng Tây Nam của nước Nhật ở cao độ 992 mét ( khoảng 3.000 bộ Anh) của vùng núi Kaimon . Quả núi cũng được mang tên gọi là "Satsuma Fuji" (có nghĩa là "Phú sĩ sơn của làng Satsuma" , có nét đẹp tựa núi Phú sĩ Fuji ở hướng Tây - Tây Nam của Đông kinh, Tokyo ). Các phi công đã phải ngoái cổ nhìn qua vai của họ để nhìn thấy được ngọn núi xa tít phía Nam trên giải đất Nhật, và trong khi bay trên không , trước khi rời xa mãi mãi đất mẹ, họ nói lời vĩnh biệt và phất tay chào ngọn núi lần cuối... 


Những người dân cư ngụ trên đảo Kikaijima, nằm về phía đông của làng Amami Oshima, nói rằng các phi công trong những nhóm thi hành sứ mệnh tự sát đã thả những nhánh hoa tươi từ trên không, khi họ đang đi bay, chuyến bay sứ mệnh cuối cùng . Theo truyền thuyết thì những ngọn đồi ở chung quanh phi trường Kikajima có những luống hoa (giống như hoa bắp, cornflower) thường trổ hoa vào đầu tháng Năm

kamikaze1-1.jpg


Tuy nhiên cũng có nhiều người tỏ ý nghi ngời hiệu quả của chiến thuật kamikaze, trong đó có cả các phi công nổi tiếng. Trung úy Yukio Seki, phi công kamikaze thứ 24 trong đội đặc nhiệm tham gia đánh chìm hàng không mẫu hạm St. Lo viết: "Tương lai Nhật Bản thật ảm đạm nếu như chúng ta buộc phải hy sinh những phi công giỏi nhất của mình. Tôi tham gia chiến dịch này không vì Đế quốc Nhật hay vì Hoàng Đế... Tôi tham gia vì tôi được lệnh phải tham gia!" Trong chuyến bay, chỉ huy của anh nghe thấy anh nói "Thà chết còn hơn sống như một kẻ hèn hạ


kamikaze2-1.jpg

Tọa độ chính của những nhiệm vụ kamikaze

Tuy nhiên, nhìn chung người ta không có khó khăn tuyển mộ phi công. Yêu cầu rất đơn giản: "Trẻ tuổi, nhanh nhẹn và hăng hái. Chỉ cần kinh nghiệm bay ở mức tối thiểu, kỹ năng hạ cánh không cần thiết". Đại tá Motoharu Okamura nhận xét "có nhiều người tình nguyện cho các phi vụ cảm tử đến mức đông như đàn ong, vì ‘ong chết sau khi đốt’". Các phi công Kamikaze tin tưởng bằng sự hy sinh của mình, họ đã đền đáp lại công ơn gia đình, bạn bè và Thiên hoàng. "Họ hăng hái đến mức khi chuyến bay bị trì hoãn hay hủy bỏ, thì các phi công trẻ được huấn luyện sơ sài này tỏ ra hết sức bực dọc. Nhiều người sau khi được chọn thực hiện các phi vụ cảm tử được kể lại là rất hân hoan vui sướng trước phi vụ cuối cùng của mình".

Chiến công của các thần phong :
7 giờ 30 sáng ngày 13/04/1945, khi các loa phóng thanh của quân đội Mỹ đồng loạt báo tin tổng thống Roosevelt từ trần thì cũng là lúc 185 máy bay Thần phong, được sự hỗ trợ của 150 chiến đấu cơ Zero, 45 phi cơ phóng lôi của Nhật tấn công vào hải quân Mỹ ngoài khơi Okinawa. Lần đầu tiên quân Nhật sử dụng một vũ khí mới, đó là bom bay OKA (hoa Anh Đào nở). Bom bay này do máy bay mang theo và phóng đi. Mỗi qủa bom bay có một cảm tử quân ngồi bên trong, điều khiển trái bom đánh trúng mục tiêu và hy sinh khi bom nổ. 


Tám chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M đem theo loại bom bay mới OKA cùng tham gia tấn công gây nỗi kinh hoàng trên các tầu Mỹ. Một trái bom bay đánh trúng khu trục hạm Abele đã bị thương vì một Thần phong đâm trúng, chiến hạm nổ tung và bị cắt làm 2. Mốt trái khác đánh nổ tung khu trục hạm Stanly. Trong lúc đó, các Thần phong đánh chìm tầu LST33, đánh hư hại nặng một thiết giáp hạm, 3 khu trục hạm và 8 hạm tầu khác. 


Tối hôm đó, loa phóng thanh của Nhật kêu gọi: "Quân đội Thiên hoàng chia buồn cùng quân Mỹ về cái chết của tổng thống Roosevelt. Cái chết của ông mở màn tấn thảm kịch của Hoa Kỳ và tấn thảm kịch ấy xẩy ra ở đây, ngay đối với bản thân các người. Lực lượng đặc biệt của Nhật Bản (tức Thần phong) sẽ liên tục đánh chìm tầu bè của các người. Các người sẽ làm bạn với cây cỏ của đảo này". 


Ngày 25/05/1945, hợp đồng tác chiến với cuộc rút quân ở Shuri (phòng tuyến chính của Nhật trên đảo Okinawa) là đợt tiến công của Thần phong lần thứ 7 ở Okinawa



Kamikaze1.jpg

Suốt 12 giờ liền, 176 Thần phong chia làm nhiều đợt từ Nhật Bản đến biển Okinawa để lao mình vào hạm đội Mỹ. Một số bị bắn nổ tung trên trời, một số rơi xuống biển nhưng có những chiếc lao trúng mục tiêu. Khu trục hạm Bates bị hai chiếc đâm trúng, nổ tung và chìm ngay, tầu đổ bộ LSM 135 chìm, 4 biến hạm khác bị đánh cháy và hư hại nặng. Phó đô đốc C.R.Brown có mặt tại hạm đội Mỹ ở Okinawa viết như sau : 


"Thật là một cảnh tượng lạ kỳ, khi đứng trên tầu ta nhìn thấy một chiếc máy bay lao thẳng vào ta. Có những pháo thủ gan dạ, đầy kinh nghiệm nhưng khi thấy một Thần Phong lao vào tầu, tự nhiên miệng há hốc ra, tay quên xiết cò súng. Tựa như anh ta bị lôi cuốn bởi trò chơi quái ác kia. Thực tình mà nói, người đứng trên tầu, lúc ấy không nghĩ đến mình nữa mà lại nghĩ lo cho anh chàng lái máy bay kia." 


Cùng ngày hôm ấy, 5 chiếc máy bay hai động cơ từ Nhật bay đến, xuyên qua hệ thống phòng không, len lỏi vào không phận sân bay Yontan giữa đảo Okinawa (lúc này đã nằm trong tay quân Mỹ). Bốn chiếc bị bắn rơi, một chiếc từ từ hạ cánh xuống đường bằng. Máy bay vừa dừng lại, cảm tử quân Nhật ùa ra chạy đến các bãi đậu máy bay và các bồn chứa của Mỹ. Họ dùng bộc phá, lựu đạn, tiểu liên, phá hủy 7 máy bay Mỹ, làm hư hại 26 chiếc khác và đốt cháy 2 bồn chứa 70.000 gallon xăng máy bay.

  Huấn luyện : 

Những người tình nguyện hi sinh, bao gồm nhiều thành phần từ phi công chính quy, binh lính cho đến cả sinh viên được huấn luyện theo một * đặc biệt trong vòng 7 ngày: 2 ngày cho việc cất cánh với 1 quả bom 250 kg; 2 ngày cho việc bay theo đội hình và 3 ngày tập cách tiếp cận mục tiêu và tấn công. 

Các phi công được cấp một bản hướng dẫn chi tiết về cách tiến hành tiến công cảm tử. Theo đó phi công phải bổ nhào nhắm vào giữa tháp chỉ huy và ống khói, vì đó là cách hiệu quả nhất để đánh chìm tàu. Phi công cũng được dặn không nên nhắm vào đài chỉ huy hay tháp pháo, mà nên nhắm vào cầu thang máy hoặc boong tàu. Nếu tiếp cận từ đường chân trời thì phi công nên "nhắm vào thân tàu, cao hơn mặt nước biển một chút", hoặc "nhắm vào cửa khoang chứa máy bay hoặc chân ống khói".

Thời khắc ra đi mãi mãi 

Vào buổi chiều trước ngày xuất phát, người chỉ huy trưởng căn cứ thông báo cho họ biết lệnh xuất phát vào ngày hôm sau và họ còn một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho người thân trước khi ra đi mãi mãi vào hôm sau. Sáng sớm, sau buổi thuyết trình ca ngợi sự hi sinh, họ có mặt trong bộ đồ phi công, đeo bên mình thanh gươm của người võ sĩ đạo, đầu quấn chiếc băng chéo thiêu nổi hình mặt trời mọc, quốc kỳ của Đế quốc Nhật Bản. Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi người một ly rượu sake, tất cả nghiêng mình về hướng cung điện để tỏ lòng tôn kính Nhật hoàng trước khi leo lên máy bay trong sự hoan nghênh của những người còn lại. 

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thiên hoàng Hiro Hito đọc tuyện bố đầu hàng vô điều kiện, một số người không chịu đựng được nỗi nhục thất trận đã mổ bụng tự sát theo tinh thần người Nhật. Hàng ngàn phi công trở về nhà bị lãng quên trong thời kì sau chiến tranh. Một số người cùng với những người khác xây dựng lại đất nước và khắc phục hậu quả chiến tranh, một số gia nhập * * Nhật Bản trong những năm 1946-1948, số khác bị khủng hoảng tinh thần và chỉ sau thập niên 1950, khi nền kinh tế Nhật Bản dần dần phục hồi đa phần trong số họ trở thành công nhân trong các hãng sản xuất lớn như: Sony, Honda, Denzu,… để quên đi quá khứ tuy đau thương nhưng không kém phần hào hùng.

Theo các nguồn và Bách khoa toàn thư Wikipedia