Saturday, June 14, 2014
Friday, June 13, 2014
Phạm Chí Dũng : Việt - Mỹ lộ dần những tín hiệu mới
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel và người đồng nhiệm Việt Nam Phùng Quang Thanh tại Diễn đàn An ninh khu vực ở Shangri-la, Singapore ngày 31/05/2014.
REUTERS/Pablo Martinez Monsivais/Pool
Thời gian gần đây, đã có những chuyển động mới trong quan hệ
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, trong các lãnh vực từ giáo dục, quân sự đến
ngoại giao. Trong hoàn cảnh bị Bắc Kinh ức hiếp mọi bề, đặc biệt là tình
hình Biển Đông luôn căng thẳng, phải chăng khuynh hướng ngả dần về
phương Tây đang trở thành một xu thế không cưỡng lại được để thoát khỏi
tình trạng khủng hoảng hiện nay ? Dư luận đang sốt ruột chờ đợi, vì có
lẽ không còn nhiều thời gian cho các nhà lãnh đạo Việt Nam.
RFI Việt ngữ đã phỏng vấn nhà bình luận Phạm Chí Dũng về vấn đề này.
|
|
RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã dành cho RFI Việt ngữ cuộc phỏng vấn hôm nay. Thưa anh, chính phủ Việt Nam vừa chấp thuận chủ trương cho thành lập trường đại học Fulbright của Hoa Kỳ. Theo anh đây có phải là một tín hiệu đáng quan tâm trong mối quan hệ Việt - Mỹ?
Vấn đề đại học Fulbright tuy chỉ là một việc nhỏ trong nghị trình làm việc giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ, nhưng nếu chúng ta gắn kết sự việc này với những tín hiệu và chuyển động khác thì có thể thấy một “quyết tâm” nào đó, đang manh nha hình thành từ một nhóm chính khách nào đó trong đảng, nhằm thúc đẩy tiến trình giao hảo nhanh hơn đôi chút.
Vào năm 2013, ngau sau chuyến thăm Washington của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ý tưởng lập đại học Fulbright đã bắt đầu được nêu ra. Đây là đại học phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam. Tuy nhiên rất có thể là khi đó quan hệ Việt - Mỹ mới chỉ tái khởi động nên tiến trình xây dựng đại học này vẫn khá chậm, và tính đến nay đã mất gần một năm.
Tuy nhiên tôi vẫn nhận ra một điểm khá đặc biệt: trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình các đại học và cao đẳng ở Việt Nam đã lạm phát đến 400 trường và do đó từ năm 2013 Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương không cho thành lập mới đại học, cả công lập lẫn tư thục, việc xuất hiện chủ trương “đặc cách” cho thành lập đại học Fulbright chính là một dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam đang muốn chứng tỏ đôi chút thiện chí với Hoa Kỳ, đặc biệt trong bối cảnh nguy cơ đe dọa Việt Nam từ Trung Quốc là quá lớn.
RFI : Anh vừa đề cập đến những chuyển động mang tính tín hiệu khác. Đó là tín hiệu nào vậy thưa anh ?
Chính xác là những tín hiệu được chủ động phát ra từ giới quân sự Hoa Kỳ.
Chúng ta có thể nhận ra là không phải vô cớ mà chỉ hai tuần sau khi xảy ra vụ việc giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 và do sức ép liên tục từ Bắc Kinh đối với Hà Nội, Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương - ông Locklear - đã bắn tiếng trên hãng tin Reuteurs về khả năng Mỹ và Việt Nam có thể hình thành “đối tác chiến lược”. Thành thật mà nói, trong tình cảnh nguy nan như hiện nay, một đối tác chiến lược đủ mạnh là một mơ ước của giới chính khách yếu đuối Hà Nội.
Vào năm trước, thỏa thuận chung Việt - Mỹ tuy bao hàm khá nhiều nội dung mang tính “toàn diện”, nhưng cần chú ý là mức độ hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam mới chỉ dừng lại ở cấp độ “đối tác toàn diện” chứ không đề cập gì đến khả năng “đối tác chiến lược”. Nhưng một khi chính người Mỹ chủ động bắn tín hiệu về triển vọng đối tác chiến lược thì có thể hiểu điều đó bao gồm cả yếu tố an ninh và quốc phòng. Đặc biệt là quốc phòng - chính là điều mà nhà cầm quyền Việt Nam và Bộ Quốc phòng quốc gia này đặc biệt trông dựa vào.
Vậy là một lần nữa, lại một lần nữa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ diễn ra “giao lưu hải quân” ở Đà Nẵng. Vào tháng 4/2013, cuộc giao lưu này diễn ra một cách khiêm tốn chỉ với ba tàu hải quân của Mỹ “đến chơi”. Còn lần này, có vẻ không khí chộn rộn hơn, thậm chí Hải quân Mỹ còn giao lưu với cả sinh viên Việt Nam và được báo chí cấp tiến của Việt Nam dành cho những lời lẽ khá nồng nhiệt.
Chỉ có thể xây dựng một quan hệ chiến lược về quốc phòng với Mỹ, người Việt Nam mới nhận được sự hỗ trợ đủ mạnh để đối phó với tham vọng khống chế Biển Đông và cả đất liền của Trung Quốc. Bằng chứng sống động và gần gũi nhất là mới vào cuối tháng 4/2014 ngay trong chuyến công du của Tổng thống Barack Obama đến Philippines, hai quốc gia này đã ký kết với nhau một bản hiệp ước về tương trợ quốc phòng.
Ngay lập tức, những động tác “ném đá dò đường” của Trung Quốc đối với các đảo nhỏ của Philippines lắng hẳn đi, còn Manila tuyên bố không ngần ngại tiếp tục chương trình kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, và trong thực tế họ đã bắt giữ tất cả những tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng lãnh hải Philippines.
Chúng ta cũng thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam lại chọn Manila - nơi diễn ra một diễn đàn kinh tế về hình thức - để lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ thủ tướng, ông đủ cam đảm đưa ra nhận xét về “hữu nghị viển vông” đối với Trung Quốc. Đó là bằng chứng gần nhất và sáng nhất cho thấy Thủ tướng Dũng không còn đường lùi. Đường tiến duy nhất của ông ta hiện nay và trong ít ra vài năm tới chỉ còn là tình hữu nghị không hề viển vông từ phía chính phủ Hoa Kỳ.
RFI : Sau sự bắn tiếng của Tư lệnh Locklear, đến lượt Tổng thống Obama lên tiếng. Đây có phải là tín hiệu không hề viển vông không thưa anh ?
Đó là tín hiệu tốt lành, nhất là trong bối cảnh quá nhạy cảm hiện thời. Nếu Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên lên tiếng “thoát Trung” trong hai nhiệm kỳ thủ tướng của ông, thì Obama cũng lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ tổng thống nói thẳng về khả năng Mỹ có thể đưa quân đến biển Đông. Điều quân để làm gì? Tất nhiên để bảo vệ sự an toàn của công dân Mỹ ở ngoài biên giới Mỹ. Nhưng người Mỹ còn thòng thêm một câu vốn là truyền thống của họ: bảo vệ các đồng minh của Mỹ. Như vậy ai là đồng minh của Mỹ?
Chúng ta đã thấy bài học của Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia đã cộng tác quân sự với Mỹ từ hơn ba chục năm qua. Còn Philippines cũng là một đồng minh quân sự và được Mỹ bảo vệ cho đến giờ này. Tất cả những quốc gia ấy có bị Trung Quốc hiếp đáp như đối với Việt Nam không? Câu trả lời là không hoặc rất ít. Âu đó cũng là một bài học phản tỉnh cho Nhà nước Việt Nam khi họ chọn quan hệ đu dây mà chẳng đi tới đâu, thậm chí còn bị lật ngửa như mới đây.
RFI : Có phải vì không đi tới đâu trong mối quan hệ đu dây mà Hà Nội đã quyết định để Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đi Mỹ ?
Đây lại là tín hiệu phản hồi, xuất hiện từ phía Việt Nam. Hầu như ngay sau khi Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương Locklear lên tiếng về triển vọng “đối tác chiến lược”, một cuộc điện đàm trực tiếp đã diễn ra giữa ông Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.
Tất nhiên người ta có thể hiểu đó là cuộc điện đàm do ông Minh chủ động đề xuất. Nhưng khác hẳn với lời đề xuất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh “đàm phán” mà đã bị Tập Cận Bình thẳng thừng từ chối, theo một tiết lộ của báo The New York Times, ông Phạm Bình Minh đã lập tức nhận được lời mời “thăm Hoa Kỳ” của ông Kerry. Sự việc này lại diễn ra ngay sau lời tuyên bố có vẻ hơi can đảm của ông Nguyễn Tấn Dũng ở Manila về thực chất mối quan hệ Việt - Trung.
Người ta cho rằng rất có thể nhóm chính khách ưu tiên chọn lá bài phương Tây đã quyết định phải hành động, phải tiến một bước đủ dài và đủ mạnh để thoát khỏi cái bóng nặng nề vẫn kềm tỏa họ từ lâu nay. Mà muốn như vậy thì chỉ còn cách đi Washington chứ không thể cứ mãi ngồi họp ở Văn phòng trung ương đảng được.
RFI : Nhưng cho tới nay, ông Phạm Bình Minh vẫn chưa đi Mỹ, cũng chưa có lịch trình công du Hoa Kỳ nào được công bố ?
Đây là một bí ẩn. Trước đây có thông tin là ông Phạm Bình Minh đã “xếp hành lý vào va-li” và chỉ còn chờ lên đường ra sân bay Nội Bài. Thế nhưng việc cho tới giờ vẫn bặt tăm hơi chuyến đi Mỹ của ông lại cho thấy một điều gì đó không được ổn lắm. Giới quan sát bình luận rằng có khả năng ông Minh không nhận được sự đồng thuận từ một số ủy viên nào đó trong Bộ Chính trị, cho dù thủ trưởng trực tiếp của ông Minh là ông Nguyễn Tấn Dũng có thể còn sẵn sàng đi xa hơn cả nước Mỹ.
RFI : Thủ tướng Việt Nam còn có thể đi xa đến đâu, theo anh ?
Đến đại hội 12 của đảng vào năm 2016, vì ngay trước mắt có vẻ đại hội này còn quan trọng hơn cả TPP và vấn đề đối tác chiến lược với Mỹ. Nhưng muốn tiến đến đại hội 12 với vị thế một ứng cử viên nặng ký cho chức vụ cao nhất trong đảng, ông Dũng lại phải được lòng dân chứ không chỉ được lòng đa số các ủy viên trung ương. Tôi cho rằng ông Dũng đang phải ngày càng lập trình về yếu tố lòng dân.
Vào thời nhà Hồ bị quân Minh đe dọa, khi Hồ Quý Ly ước ao “có được trăm vạn quân để chống giặc Minh”, con trai Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng đã trả lời cha “quân không thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo”. Quả báo đã đến với nhà Hồ khi dân chúng, vốn trước đó bị triều đình đàn áp tàn bạo, đã không còn thiết tha gì với vận mệnh xã tắc. Khi gần một trăm vạn quân Minh tràn vào nước Nam, nhà Hồ chỉ cầm cự được hơn 6 tháng thì thảm bại. Đất nước bị nô thuộc, còn cha con Hồ Quý Ly bị bắt đưa thẳng về Trung Quốc.
Bây giờ cũng tương tự vậy thôi. Nếu một cuộc chiến tranh được kích động từ Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liệu có thể dựa vào 3/4 trong số gần 200 ủy viên trung ương đảng để chiến đấu, hay ông ta phải dựa vào 90 triệu dân chúng? Có lẽ đó là lý do để ông Dũng trở thành người duy nhất trong bộ tứ triều đình đưa ra một vài tuyên bố có vẻ cứng rắn đối với Bắc Kinh. Và đó cũng là lý do để ông thấy rằng nếu không biết khoan sức dân thì đến một ngày nào đó sẽ chẳng còn ai đi biểu tình chống Trung Quốc hay chiến đấu với Trung Quốc.
RFI : Điều anh vừa nói có phải là lý do để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mặc dù đã gật đầu với việc cấm và đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc vào ngày 18/05/2014, nhưng lại chủ động đề nghị Quốc hội đưa Luật Biểu tình vào chương trình luật năm 2015, thay vì để đến năm 2020 như dự kiến cách đây có vài tháng ?
Chính xác là như vậy. Một sự thay đổi đột ngột đến mức khó tin từ phía ông Dũng. Mới vào đầu năm 2014, Chính phủ đã dự kiến sẽ chỉ ban hành Luật Biểu tình sau năm 2016, và theo lộ trình là phải đến năm 2020 mới ra được luật này. Trước đó vào năm 2011 khi Trung Quốc cắt cáp tàu Việt Nam cũng như gây ra hàng loạt thương vong cho ngư dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đăng đàn trước Quốc hội và trở thành người đầu tiên trong Bộ Chính trị yêu cầu cần có luật biểu tình. Thế nhưng từ đó đến nay tất cả vẫn im hơi lặng tiếng, dự thảo Luật Biểu tình được giao cho Bộ Công an soạn thảo nhưng tới giờ vẫn chẳng thấy bóng dáng đâu. Còn ông Dũng có vẻ chẳng còn giữ được “quyết tâm” của ông về ban hành luật này.
Tất cả hầu như là một sự bất nhất đến khó mà cảm thông và còn như sỉ nhục đối với quốc dân đồng bào. Ngay vào kỳ họp Quốc hội tháng 11/2013 khi thông qua Hiến pháp mới, Luật Biểu tình đã không hề được đả động. Nhưng đến tháng cuối của năm 2013, ông Phan Trung Lý - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội - lại bất ngờ thông báo là Quốc hội có thể sẽ ban hành Luật Lập hội và Luật Biểu tình « trong thời gian tới ». Thời gian tới là khi nào thì chẳng ai làm rõ. Hay theo cái cách của Hiến pháp năm 1992, đến nay đã hơn hai chục năm mà vẫn chẳng một ai luật hóa các quyền tự do lập hội và tự do biểu tình?
Nhưng bây giờ thì đúng là “gặp thời thế, thế thời phải thế” - như cụ Ngô Thời Nhậm đã phán. Đến như một ông nghị có truyền thống “phản biểu tình” như Hoàng Hữu Phước mà cũng thay đổi quan điểm chuyển sang ủng hộ Luật Biểu tình chỉ sau một đêm, thì chúng ta có thể thấy thời vận đang thay đổi nhanh thế nào. Khi báo chí trong nước hỏi lý do vì sao ông Phước lại thay đổi quan điểm đột ngột như vậy, ông ta lập tức trả lời rằng đó chỉ là cách hiểu khác nhau về ngôn từ.
Hẳn là tình thế đã trở nên bức bách đến mức mà một đại biểu Quốc hội “kiên cường” như Hoàng Hữu Phước mới phải thay đổi, còn những tờ báo kiên định nhất của đảng cũng mới bắt đầu hé lộ ý tưởng “chấp nhận các khuyến nghị UPR”. Tôi cho rằng đây cũng là một tín hiệu mới. Nếu vào cuộc UPR (kiểm điểm định kỳ phổ quát) vào tháng 2/2014 ở Thụy Sĩ, phái đoàn Hà Nội còn hùng hồn tuyên bố Việt Nam đã thực hiện đến hơn 80% khuyến nghị của các quốc gia trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, thì nay giọng điệu của Bộ Ngoại giao có vẻ đã đổi khác. Âu đó cũng là một sự cách điệu về ngôn từ.
RFI : Với những tín hiệu cách điệu đó, anh có hy vọng câu chuyện dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam sẽ được cải thiện hơn trong thời gian tới?
Vấn đề này lại phụ thuộc vào một tín hiệu khác là Đối thoại Nhân quyền Việt - Mỹ mới diễn ra ở Washington vào giữa tháng 5/2014.
Cuộc gặp mặt giữa hai quốc gia cựu thù vào năm nay được dẫn dắt bởi một gương mặt không kém mẫn cảm so với trưởng phái đoàn Hoa Kỳ năm ngoái là Tom Malinowski, phụ trách về dân chủ và nhân quyền và lao động - những lĩnh vực mà Hà Nội không thú vị chút nào.
Điểm đáng ghi nhận đầu tiên chính là sự có mặt trực tiếp của chính Tom Malinowski sau cuộc đối thoại vừa qua, trong khi sau cuộc đối thoại năm ngoái đã không hề xuất hiện Dan Baer - trưởng đoàn Mỹ. Cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ năm 2013 cũng chỉ là bắt đầu cho mối quan hệ được tái lập sau thời gian bị bỏ ngỏ, và vào thời điểm đó các viên chức Mỹ có vẻ không hề hài lòng trước sự trì hoãn cố tật của phía Việt Nam. Dan Baer còn không được gặp gỡ một số nhân vật bất đồng chính kiến mà ông đề nghị đến thăm.
Nhưng vào năm nay thì khác hẳn. Tháng 3/2014, bà Wendy Sherman Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách về chính trị còn được gặp Hội Anh em Dân chủ - một tổ chức dân sự độc lập ngay tại Hà Nội. Vào ngày 20/5/2014, Phái đoàn Liên minh châu Âu cũng lần đầu tiên tổ chức được một cuộc hội thảo với một số hội đoàn dân sự độc lập của Việt Nam ngay tại Hà Nội, tạo nên một sự kiện chưa từng có đối với xã hội dân sự ở đất nước này.
Còn sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ vừa qua, Tom Malinowski nhận định: “Sở dĩ có hy vọng cao rằng Đối thoại Nhân quyền năm nay đạt tiến bộ, xuất phát từ đối thoại TPP. Cho nên, cuộc Đối thoại Nhân quyền là cách mà qua đó chúng tôi có thể thảo luận chính xác các bước nào Việt Nam cần thiết phải thực hiện để có thể trở thành thành viên của TPP trong năm nay”.
Thực ra chúng ta có thể chuẩn bị nâng ly chúc mừng Nhà nước Việt Nam. Lần gặp gỡ của Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Penny Pritzker với ông Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội vào đầu tháng 6/2014 - một tháng sau Đối thoại Nhân quyền - đã phác ra một bức tranh không đến nỗi quá xấu xí: TPP có cơ hội được kết thúc vào cuối năm nay, và do đó người Việt cũng có thể tạm gột rửa vết dơ Trung Quốc trên mặt mình.
Thậm chí Tom Malinowski còn cho rằng “Việt Nam có cơ hội, một cơ hội thật sự”. Quả thực, nửa cuối năm nay có vẻ là cơ hội gần cuối cho giới đàm phán Hà Nội, vì nếu đến năm sau khi tất cả các ứng cử viên Hoa Kỳ đều phải tất bật vì chuyện vận động tranh cử, sẽ chẳng còn mấy ai tha thiết vận động cho Việt Nam vào TPP nữa.
Tom Malinowski còn nêu ra một ví von ẩn dụ rất tượng hình: “Giống như một bình nước sôi, sẽ tốt hơn nhiều nếu ta mở nắp để hơi nóng thoát ra thay vì cố gắng đậy lại để rốt cuộc dẫn tới một sự bùng nổ lớn hơn”. Chúng ta nên đặc biệt để ý đến câu nói này. Ví von này mang một phong cách mà chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh tự tin của giới chính trị gia phương Tây.
Biểu đạt cảm hứng này cũng gián tiếp cho thấy chưa bao giờ từ năm 1945 đến nay, dân tộc Việt Nam phải chứng kiến một Nhà nước Việt Nam cô đơn và chia rẽ đến thế, bất chấp phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và hàng chục đối tác chiến lược toàn diện mà nhà nước này đã “dày công vun đắp” suốt hàng chục năm qua. Họ cô đơn trước quốc tế và cô độc trước cả dân chúng của họ.
Với quốc tế và với đa số trong giới nghị sĩ Mỹ, sẽ không thể có TPP cho Việt Nam nếu không có nhân quyền. Và với 153 nghị sĩ chiếm đến 2/3 đảng Dân chủ vừa nêu ra một thư yêu cầu đối với Đại diện thương mại Mỹ, sẽ không thể có TPP nếu Việt Nam không chấp nhận thành lập công đoàn độc lập cho 5 triệu công nhân. Những người cầm quyền Việt Nam không thể cứ đẩy người dân vào nỗi cô độc vô cùng tận để trám chỗ cho nỗi cô đơn chưa biết làm cách nào giải tỏa của chính thể.
RFI : Lần đầu tiên trong các cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ, trưởng đoàn Hoa Kỳ nhắc tới từ “quân sự” nhằm khẳng định quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến sâu hơn nữa khi Hà Nội cải thiện nhân quyền. Làm cách nào và ai sẽ xử lý cuộc “khủng hoảng Việt Nam” lần này?
Không ai có thể làm thay cho Nhà nước Việt Nam. Nếu một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như Phùng Quang Thanh đã gây phản cảm nặng nề nơi công luận, bởi biểu hiện buồn thảm và sợ sệt đến thế của viên đại tướng này trong những lời ve vuốt “nước bạn” tại Diễn đàn Shangri-la, làm sao chính thể cầm quyền ở Việt Nam có hy vọng gì dùng quân đội để đối đầu với một lực lượng quân sự đông gấp 3-4 lần của Trung Quốc, nếu một cuộc chiến tranh mang tên “Mười sáu chữ vàng” xảy ra?
Tôi xin nhắc lại câu lời tự sự của Trưởng đoàn đàm phán đối thoại nhân quyền Mỹ: “Liệu nhà nước Việt Nam có thực hiện những bước cần thiết để nắm bắt cơ hội hay không là câu hỏi mà tôi không thể trả lời thay họ được”, và “Chúng ta phải chờ xem bởi vì sự trắc nghiệm không nằm ở chất lượng cuộc đối thoại mà ở các bước sẽ diễn ra trong những ngày sắp tới”. Trong hoàn cảnh nguy cơ từ Trung Quốc ngày càng cận kề, nếu nhà nước và giới quân sự Việt Nam không hành động nhanh chóng, quyết đoán với đôi chút thành tâm, họ sẽ mất đi chút ít cơ hội còn lại và rơi vào lịch sử của nhà Hồ mất nước.
Tuy nhiên với tín hiệu từ cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ vào tháng 5/2014, tôi có thể hy vọng rằng những ngày sắp tới, hay chính xác là những tháng sắp tới sẽ có được một số chuyển biến. Tôi có cảm giác rằng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại vừa đạt được một thỏa thuận không chính thức nào đó, theo đó sắp tới sẽ có thêm một đợt thả tù nhân lương tâm, tiếp theo đợt thả tù chính trị trong hai tháng Ba và Tư năm nay.
Xu hướng ngả dần về phương Tây cũng dần phải trở thành một xu thế không cưỡng lại được, bất chấp một lực lượng nhân sự “thân Trung” nào đó vẫn có thể tìm cách phá bĩnh. Tiến độ này sẽ cho thấy xu thế hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ được nâng dần về cấp độ, và không loại trừ sự có mặt dày hơn và có ý nghĩa răn đe hơn của Hạm đội 7 ở Biển Đông trong thời gian tới.
Nhưng muốn có được những kết quả đó, nội bộ Việt Nam phải có một đột biến về nhân tố khởi phát cho chuyển động. Nhiều người đang nhìn vào ông Nguyễn Tấn Dũng như một nhân tố có thể xử lý “khủng hoảng Việt Nam”. Thế nhưng cũng nhiều người không kém lại cho rằng ông Dũng chỉ là vị lãnh đạo viển vông khi nêu ra tính từ “viển vông” đối với Trung Quốc, trong khi thực chất ông ta sẽ chẳng làm gì hết.
Nhưng làm gì thì làm và nói gì thì nói, thật ra thời gian chẳng còn nhiều cho bất kỳ chính khách nào. Đã đến lúc cần xác định rằng đã qua thời kỳ “Lũ chúng ta nằm trong giường chiếu hẹp” mà phải thật sự tiến ra đường phố với một lòng thành tâm tối thiểu, cùng một quyết tâm không nhìn về phía sau. Chỉ có thế mới đảm bảo tương lai chính trị cho các chính khách Việt Nam và cũng là phần nào cứu nguy cho cái dân tộc Việt quá nhiều đắng cay này.
Còn nếu giới chính trị cứ bùng nhùng như hiện nay thì tương lai của họ chắc chắn sẽ là “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.
RFI : Chúng tôi xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ về vấn đề những tín hiệu mới trong quan hệ Việt-Mỹ.
Thursday, June 12, 2014
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố Hoàng Sa thuộc chủ quyền VN
Mặc dù Mỹ tuyên bố giữ quan điểm trung lập trong các tranh chấp lãnh thổ, song Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Daniel Russel hôm qua cũng đã phát biểu rằng Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa từ lâu và Trung Quốc cần phải rút giàn khoan Hải Dương 981 cùng các tàu hộ tống về.
Theo Tạp chí Xã Hội Học - 11:08 11/06/2014
Trong cuộc họp báo qua điện thoại từ Yangon (Myanmar) vào hôm qua (10/6), Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Russel đã nêu lên hàng loạt các quan ngại của Mỹ đối với căng thẳng xung quanh giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou-981) cũng như việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo trên quần đảo Trường Sa để khẳng định cái gọi là chủ quyền trên phần lớn biển Đông.
Mặc dù Mỹ không đứng về phía nào trong tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, ông Russel lưu ý rằng Việt Nam từ lâu đã tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Hơn nữa, Việt Nam lâu nay đã thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực mà Việt Nam chính thức tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế tính từ đất liền.
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương Daniel Russel
Trong cuộc gặp với các quan chức cấp cao Việt Nam và Trung Quốc bên lề hội nghị ARF ở Myanmar, ông Russel đều nhấn mạnh sự cần thiết phải xuống thang tình hình ở Hoàng Sa, hai bên cần kiềm chế trong hoạt động của các tàu thuyền.
“Các nước tham gia tranh chấp tại biển Đông cần bảo đảm hành vi của mình không mang tính khiêu khích… Đó là cơ sở để hạ nhiệt căng thẳng trên biển Đông”, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ nói.
Bình luận cụ thể về tình hình gia tăng căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc quanh khu vực giàn khoan Hải Dương-981, ngoài việc nhấn mạnh các bên cần thể hiện như tinh thần hợp tác, tự kiềm chế và bảo đảm an toàn cho ngư dân cũng như tàu bè, ông Russel nhận định yếu tố quan trọng để hạ nhiệt là “Trung Quốc phải rút giàn khoan”.
"Khuyến nghị của tôi là Trung Quốc nên rút giàn khoan ra khỏi Biển Đông, cả Trung Quốc và Việt Nam nên rút tất cả tàu về. Cách làm đó sẽ giúp tạo nên hòa bình cho quá trình ngoại giao, giải quyết căng thẳng", ông Russel nói.
Đối với các hoạt động xây dựng cải tạo mà Trung Quốc bị nghi đang tiến hành ở Biển Đông hiện nay, ông Russel bình luận rằng việc xây dựng quy mô lớn đó vi phạm nguyên tắc giữ nguyên hiện trạng mà Trung Quốc và ASEAN cam kết trong Tuyên bố ứng xử của các bên năm 2002 (DOC). Trong đó các bên tự cam kết không chiếm đóng những thực thể không có người ở.
Theo ông Daniel Russel, Trung Quốc nên rút đoàn tàu hộ tống về để tránh làm căng thẳng thêm tình hình
Tại cuộc họp ARF, ông Russel nói các bên có cơ hội ngồi vào bàn để lắng nghe từ Trung Quốc, Việt Nam và cả Philippines. Đại diện các nước đều bày tỏ mong muốn có giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, cần có cách cư xử có trách nhiệm trong khu vực. Ông Russel nói Mỹ khuyến khích các nước liên quan ở Biển Đông phát huy các phương cách ngoại giao để giải quyết khác biệt.
Ông Russel cũng nhắc đến việc Tòa trọng tài thường trực có trụ sở tại The Hague (Hà Lan) vừa yêu cầu Trung Quốc trong vòng 6 tháng phải trả lời đơn kiện của Philippines liên quan đến yêu sách "đường lưỡi bò" của Bắc Kinh trên biển Đông.
“Đây là cơ hội quan trọng để Trung Quốc gỡ bỏ những mập mờ liên quan đến tuyên bố chủ quyền dựa trên đường 9 đoạn của mình. Chính những tuyên bố chủ quyền trên cơ sở này đang không ngừng làm gia tăng căng thẳng và bất an trong khu vực”, ông Russel nói.
Ông Russel khẳng định chính sách “tái cân bằng” của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương mang lại lợi ích cho các nước trong khu vực, kể cả Trung Quốc. Quan điểm này đã được Tổng thống Barack Obama truyền đạt trong bài phát biểu về chính sách ngoại giao tại trường võ bị West Point (New York) ngày 28/5.
“Nếu chúng ta không có phản ứng thích hợp thì những hành động hung hăng tại các khu vực, ở nam Ukraine, biển Đông hay bất cứ nơi nào khác sẽ ảnh hưởng đến đồng minh của chúng ta và khiến quân đội phải vào cuộc”, ông Obama đã nói.
Theo Yên Yên
Monday, June 9, 2014
Kamikaze - Huyền Thoại Về Các Cảm Tử Quân Nhật Bản
Đứng bên cạnh hình ảnh các Samurai hiên ngang bất khuất là những cảm
tử quân ít người biết đến: Kamikaze (Kami = god; kaze = wind ; Kamikaze =
Thần Phong).
Thần phong, gió thần hay Kamikaze (tiếng Nhật: 神風; kami = thần, kaze =
phong) là một từ tiếng Nhật, được những tiếng khác vay mượn để chỉ các
cuộc tấn công cảm tử bởi các phi công chiến đấu Nhật Bản chống lại tàu
chiến của các nước Đồng Minh trong Thế chiến thứ hai trong giai đoạn kết
thúc Chiến dịch Thái Bình Dương.
Phi công Kamikaze sẽ lái máy bay của mình, thường là chở đầy thuốc
nổ, bom, thủy lôi và bình đựng xăng đâm vào tàu địch. Máy bay của anh
như vậy có vai trò hỏa tiễn sống trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm tăng
tối đa độ chính xác và tổn thất cho địch quân so với bom đạn thông
thường. Mục tiêu của các phi công này là đánh phá càng nhiều càng tốt
tàu bè của phe Đồng Minh.
Các cuộc tấn công này bắt đầu từ tháng 10 năm 1944, sau một số trận
thua nặng nề của Nhật Bản. Việc tiềm lực chiến tranh giảm sút– cùng với
việc mất đi rất nhiều phi công giỏi giàu kinh nghiệm–sản xuất công
nghiệp suy yếu đi so với Hoa Kỳ, cũng như việc chính phủ Nhật Bản không
muốn đầu hàng, dẫn đến chiến thuật sử dụng kamikaze khi lực lượng Đồng
Minh tiến đánh Quần đảo Nhật Bản.
Các cuộc tấn công cảm tử Kamikaze là các cuộc tấn công nổi tiếng nhất
và được biết đến nhiều nhất, giống như các cuộc "xung phong banzai" bởi
bộ binh Nhật. Ngoài ra, người Nhật còn có các đội tấn công cảm tử khác
như tàu ngầm Kairyu, thủy lôi sống Kaiten, khinh tốc đỉnh Shinyo.

Trong những năm đầu của thập niên 1940 khi hạm đội Mỹ khống chế Thái
Bình Dương, những cuộc *ng độ giữa hải quân Nhật-Mỹ liên tục diễn ra,
đặc biệt là sau trận Trân Châu cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941 với thắng
lợi thường thuộc về người Mỹ vì Mỹ có ưu thế lớn về hải quân và không
quân. Những thất bại đó mà đỉnh điểm là trận Hải chiến biển Philippines
đã khiến quân Nhật nghĩ đến những phương sách khác, trong bối cảnh đó bộ
tham mưu Nhật đã nghĩ đến những cuộc tấn công cảm tử để tái lập thế
quân bình lực lượng. Người đầu tiên đưa ra ý tưởng này là chỉ huy trưởng
căn cứ Nhật Tateyama tuy không được chấp thuận nhưng ý kiến này đã được
bảo lưu và nghiên cứu.
Hồi đầu chiến dịch Thái Bình Dương trong Đại chiến thế giới thứ 2 của
Nhật, Onishi là Trưởng phòng phát triển không quân của Hải quân Nhật,
và là người chịu một số trách nhiệm về kỹ thuật trong đợt tấn công của
quân Nhật vào Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), dưới sự lãnh đạo của thống
đốc hải quân Isoroku Yamamoto. Bản thân Onishi đã từng phản đối cuộc tấn
công vào Trân Châu Cảng, khiến cho Mỹ sau đó tuyên chiến với Nhật và
dẫn đến một cuộc chiến đẫm máu, và cuối cùng Nhật đã phải đầu hàng không
điều kiện.

Vào tháng 10/1944, Onishi được thăng chức thành tư lệnh Chiến hạm
Không quân ở phía bắc Philippines. Onishi đã nghiên cứu các phương pháp
đánh cảm tử vào những tàu chiến của quân Mỹ và Đồng minh, phương pháp mà
hồi đầu Onishi đã từng phản đối. Sau khi bị mất dãy đảo Mariana, Onishi
thay đổi ý kiến và ra lệnh tấn công bằng máy bay chứa đầy bom. Kế hoạch
là khoảng 250 kg bom được đưa lên máy bay Misubishi A6M Zero và đâm
thẳng vào tàu chiến địch.
Trong buổi gặp mặt ở sân bay Magracut gần Manila , Philippines vào
ngày 19/10, Onishi đến thăm đội bay 201 đã cho rằng: "Tôi nghĩ chúng ta
sẽ không còn phương pháp nào giữ được Philippines , bằng cách cho 250 kg
bom lên chiếc Zero và đâm thẳng xuống tàu chiến Mỹ". Từ đó những cuộc
tấn công theo kiểu Kazmikaze này liên tiếp được tiến hành, nhưng không
phải mọi máy bay đều đâm trúng đích. Nhiều chiếc đã bị bắn rơi trước khi
kịp đâm trúng mục tiêu.
Bộ tư lệnh tối cao Nhật lúc đó đã tin tuởng vào hiệu quả đặc biệt của
chiến thuật 'bom nguời' và Nhật Hoàng Hiro Hito đọc diễn văn ca ngợi
những chàng trai trẻ tuổi đôi mươi đã ra đi 'chết hạnh phúc và tự hào vì
hoàng đế và sự chiến thắng'. Số người tự nguyện hi sinh nhiều gấp 10
lần số máy bay mà quân đội Thiên hoàng có.Theo nhà nghiên cứu Maurice
Pinguet,những phi công đó biết rằng sớm hay muộn gì họ cũng sẽ hi sinh
trong một cuộc chiến không cân sức nên họ đã chọn một cái chết nhanh
chóng và có ích hơn.Họ không được hứa hẹn một sự đền đáp nào,một thiên
đường nào kể cả niềm tự hào chiến thắng.Trong số những người tình
nguyện,có cả những sinh viên;họ được huấn luyện trong một * đặc biệt
trong 7 ngày; 2 ngày cho việc cất cánh với một quả bom 250kg; 2 ngày cho
việc bay theo đội hình và 3 ngày cho việc tiếp cận mục tiêu và tấn
công. Phần lớn các kamikze đêu là những thanh niên ưu tú của Nhật Bản ở
độ tuổi 20,họ là sinh viên của những trường Đại Học Nhật Bản ,phần lớn
họ theo học các ngành kỹ thuật . Chính họ đã tự đăng ký đẻ được trở
thành các Kamikze-hi sinh cho Tổ Quốc .Tinh thần Samurai đã thấm nhuần
vào dòng máu nhưng người con Nhật Bản và danh sách đăng ký ngày càng
tăng cao.
Và vào một buổi chiều, nguời chỉ huy truởng căn cứ báo cho họ biết
lệnh xuất phát vào sáng hôm sau. Họ chỉ còn có một đêm cuối cùng để viết
một bức thư cuối cùng cho cha mẹ. Sáng sớm, sau buổi thuyết trình thuờng
lệ , họ có mặt trong những bộ đồ bay, bên sườn lủng lẳng thanh trường
kiếm của nguời hiệp sĩ samurai , đầu quấn chiếc băng chéo thêu nổi hình
mặt trời mọc . Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi nguời một cốc rượu
sake ; tất cả nghiêng mình về hướng cung điện của Nhật hoàng truớc khi
chạy bổ nhào đến máy bay truớc sự hoan hô nồng nhiệt của các đồng đội
còn ở lại . Theo truyền thuyết, những phi công trẻ trong các sứ mệnh tự
sát kamikaze sau khi cất cánh thường bay về hướng Tây Nam của nước Nhật ở
cao độ 992 mét ( khoảng 3.000 bộ Anh) của vùng núi Kaimon . Quả núi
cũng được mang tên gọi là "Satsuma Fuji" (có nghĩa là "Phú sĩ sơn của
làng Satsuma" , có nét đẹp tựa núi Phú sĩ Fuji ở hướng Tây - Tây Nam của
Đông kinh, Tokyo ). Các phi công đã phải ngoái cổ nhìn qua vai của họ
để nhìn thấy được ngọn núi xa tít phía Nam trên giải đất Nhật, và trong
khi bay trên không , trước khi rời xa mãi mãi đất mẹ, họ nói lời vĩnh
biệt và phất tay chào ngọn núi lần cuối...
Những người dân cư ngụ trên đảo Kikaijima, nằm về phía đông của làng
Amami Oshima, nói rằng các phi công trong những nhóm thi hành sứ mệnh tự
sát đã thả những nhánh hoa tươi từ trên không, khi họ đang đi bay,
chuyến bay sứ mệnh cuối cùng . Theo truyền thuyết thì những ngọn đồi ở
chung quanh phi trường Kikajima có những luống hoa (giống như hoa bắp,
cornflower) thường trổ hoa vào đầu tháng Năm

Tuy nhiên cũng có nhiều người tỏ ý nghi ngời hiệu quả của chiến thuật
kamikaze, trong đó có cả các phi công nổi tiếng. Trung úy Yukio Seki,
phi công kamikaze thứ 24 trong đội đặc nhiệm tham gia đánh chìm hàng
không mẫu hạm St. Lo viết: "Tương lai Nhật Bản thật ảm đạm nếu như chúng
ta buộc phải hy sinh những phi công giỏi nhất của mình. Tôi tham
gia chiến dịch này không vì Đế quốc Nhật hay vì Hoàng Đế... Tôi tham
gia vì tôi được lệnh phải tham gia!" Trong chuyến bay, chỉ huy của anh
nghe thấy anh nói "Thà chết còn hơn sống như một kẻ hèn hạ

Tọa độ chính của những nhiệm vụ kamikaze
Tuy nhiên, nhìn chung người ta không có khó khăn tuyển mộ phi
công. Yêu cầu rất đơn giản: "Trẻ tuổi, nhanh nhẹn và hăng hái. Chỉ cần
kinh nghiệm bay ở mức tối thiểu, kỹ năng hạ cánh không cần thiết". Đại
tá Motoharu Okamura nhận xét "có nhiều người tình nguyện cho các phi vụ
cảm tử đến mức đông như đàn ong, vì ‘ong chết sau khi đốt’". Các phi
công Kamikaze tin tưởng bằng sự hy sinh của mình, họ đã đền đáp lại công
ơn gia đình, bạn bè và Thiên hoàng. "Họ hăng hái đến mức khi chuyến bay
bị trì hoãn hay hủy bỏ, thì các phi công trẻ được huấn luyện sơ sài này
tỏ ra hết sức bực dọc. Nhiều người sau khi được chọn thực hiện các phi
vụ cảm tử được kể lại là rất hân hoan vui sướng trước phi vụ cuối cùng
của mình".
Chiến công của các thần phong :
7 giờ 30 sáng ngày 13/04/1945, khi các loa phóng thanh của quân đội
Mỹ đồng loạt báo tin tổng thống Roosevelt từ trần thì cũng là lúc 185
máy bay Thần phong, được sự hỗ trợ của 150 chiến đấu cơ Zero, 45 phi cơ
phóng lôi của Nhật tấn công vào hải quân Mỹ ngoài khơi Okinawa. Lần đầu
tiên quân Nhật sử dụng một vũ khí mới, đó là bom bay OKA (hoa Anh Đào
nở). Bom bay này do máy bay mang theo và phóng đi. Mỗi qủa bom bay có
một cảm tử quân ngồi bên trong, điều khiển trái bom đánh trúng mục tiêu
và hy sinh khi bom nổ.
Tám chiếc oanh tạc cơ Mitsubishi G4M đem theo loại bom bay mới OKA cùng tham gia tấn công gây nỗi kinh hoàng trên các tầu Mỹ. Một trái bom bay đánh trúng khu trục hạm Abele đã bị thương vì một Thần phong đâm trúng, chiến hạm nổ tung và bị cắt làm 2. Mốt trái khác đánh nổ tung khu trục hạm Stanly. Trong lúc đó, các Thần phong đánh chìm tầu LST33, đánh hư hại nặng một thiết giáp hạm, 3 khu trục hạm và 8 hạm tầu khác.
Tối hôm đó, loa phóng thanh của Nhật kêu gọi: "Quân đội Thiên hoàng chia buồn cùng quân Mỹ về cái chết của tổng thống Roosevelt. Cái chết của ông mở màn tấn thảm kịch của Hoa Kỳ và tấn thảm kịch ấy xẩy ra ở đây, ngay đối với bản thân các người. Lực lượng đặc biệt của Nhật Bản (tức Thần phong) sẽ liên tục đánh chìm tầu bè của các người. Các người sẽ làm bạn với cây cỏ của đảo này".
Ngày 25/05/1945, hợp đồng tác chiến với cuộc rút quân ở Shuri (phòng tuyến chính của Nhật trên đảo Okinawa) là đợt tiến công của Thần phong lần thứ 7 ở Okinawa

Suốt 12 giờ liền, 176 Thần phong chia làm nhiều đợt từ Nhật Bản đến
biển Okinawa để lao mình vào hạm đội Mỹ. Một số bị bắn nổ tung trên
trời, một số rơi xuống biển nhưng có những chiếc lao trúng mục tiêu. Khu
trục hạm Bates bị hai chiếc đâm trúng, nổ tung và chìm ngay, tầu đổ bộ
LSM 135 chìm, 4 biến hạm khác bị đánh cháy và hư hại nặng. Phó đô đốc
C.R.Brown có mặt tại hạm đội Mỹ ở Okinawa viết như sau :
"Thật là một cảnh tượng lạ kỳ, khi đứng trên tầu ta nhìn thấy một chiếc máy bay lao thẳng vào ta. Có những pháo thủ gan dạ, đầy kinh nghiệm nhưng khi thấy một Thần Phong lao vào tầu, tự nhiên miệng há hốc ra, tay quên xiết cò súng. Tựa như anh ta bị lôi cuốn bởi trò chơi quái ác kia. Thực tình mà nói, người đứng trên tầu, lúc ấy không nghĩ đến mình nữa mà lại nghĩ lo cho anh chàng lái máy bay kia."
Cùng ngày hôm ấy, 5 chiếc máy bay hai động cơ từ Nhật bay đến, xuyên qua hệ thống phòng không, len lỏi vào không phận sân bay Yontan giữa đảo Okinawa (lúc này đã nằm trong tay quân Mỹ). Bốn chiếc bị bắn rơi, một chiếc từ từ hạ cánh xuống đường bằng. Máy bay vừa dừng lại, cảm tử quân Nhật ùa ra chạy đến các bãi đậu máy bay và các bồn chứa của Mỹ. Họ dùng bộc phá, lựu đạn, tiểu liên, phá hủy 7 máy bay Mỹ, làm hư hại 26 chiếc khác và đốt cháy 2 bồn chứa 70.000 gallon xăng máy bay.
Huấn luyện :
Những người tình nguyện hi sinh, bao gồm nhiều thành phần từ phi công chính quy, binh lính cho đến cả sinh viên được huấn luyện theo một * đặc biệt trong vòng 7 ngày: 2 ngày cho việc cất cánh với 1 quả bom 250 kg; 2 ngày cho việc bay theo đội hình và 3 ngày tập cách tiếp cận mục tiêu và tấn công.
Các phi công được cấp một bản hướng dẫn chi tiết về cách tiến hành tiến công cảm tử. Theo đó phi công phải bổ nhào nhắm vào giữa tháp chỉ huy và ống khói, vì đó là cách hiệu quả nhất để đánh chìm tàu. Phi công cũng được dặn không nên nhắm vào đài chỉ huy hay tháp pháo, mà nên nhắm vào cầu thang máy hoặc boong tàu. Nếu tiếp cận từ đường chân trời thì phi công nên "nhắm vào thân tàu, cao hơn mặt nước biển một chút", hoặc "nhắm vào cửa khoang chứa máy bay hoặc chân ống khói".
Thời khắc ra đi mãi mãi
Vào buổi chiều trước ngày xuất phát, người chỉ huy trưởng căn cứ thông báo cho họ biết lệnh xuất phát vào ngày hôm sau và họ còn một đêm cuối cùng để viết một bức thư cuối cùng cho người thân trước khi ra đi mãi mãi vào hôm sau. Sáng sớm, sau buổi thuyết trình ca ngợi sự hi sinh, họ có mặt trong bộ đồ phi công, đeo bên mình thanh gươm của người võ sĩ đạo, đầu quấn chiếc băng chéo thiêu nổi hình mặt trời mọc, quốc kỳ của Đế quốc Nhật Bản. Chỉ huy trưởng căn cứ trao cho mỗi người một ly rượu sake, tất cả nghiêng mình về hướng cung điện để tỏ lòng tôn kính Nhật hoàng trước khi leo lên máy bay trong sự hoan nghênh của những người còn lại.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Thiên hoàng Hiro Hito đọc tuyện bố đầu hàng vô điều kiện, một số người không chịu đựng được nỗi nhục thất trận đã mổ bụng tự sát theo tinh thần người Nhật. Hàng ngàn phi công trở về nhà bị lãng quên trong thời kì sau chiến tranh. Một số người cùng với những người khác xây dựng lại đất nước và khắc phục hậu quả chiến tranh, một số gia nhập * * Nhật Bản trong những năm 1946-1948, số khác bị khủng hoảng tinh thần và chỉ sau thập niên 1950, khi nền kinh tế Nhật Bản dần dần phục hồi đa phần trong số họ trở thành công nhân trong các hãng sản xuất lớn như: Sony, Honda, Denzu,… để quên đi quá khứ tuy đau thương nhưng không kém phần hào hùng.
Theo các nguồn và Bách khoa toàn thư Wikipedia
Subscribe to:
Posts (Atom)








